TRADE VÀNG CÙNG TÀI
CHÍNH THẾ GIỚI
Bài
1. Trade Vàng cần quan tâm đến gì?
Bài
2. Vàng bị ảnh hưởng bởi những gì? Hay những gì tạo ra xu hướng Vàng?
Bài
3: Cách xác lập hay nhận biết, bắt đáy, đón đỉnh của Vàng Thế giới.
Bài
4. Vàng có là bong bóng? Xu hướng Vàng trong tương lai.
Bài
5. Tổng hợp những kinh nghiệm của Taichinhthegioi.
Bài 1. Trade Vàng
cần quan tâm đến gì?
Bài
1: Trade Vàng cần quan tâm đến những yếu tố gì?
Như
chúng ta đã biết Vàng thế giới biến động theo từng giây từng phút, traders
trade Vàng thì gồm có rất nhiều thành phần, kể cả các ngân hàng TW trên thế
giới. Và trade Vàng rất khắc nghiệt, nó có thể cho ta lãi khủng nhưng chính nó
cũng sẽ lấy đi của ta tất cả. Vậy làm khi chúng ta trade Vàng, chúng ta cần
quan tâm đến gì để chiến thắng?
1. Cần trang bị 1 số kiến thức cơ bản hay sơ
đẳng về trade Vàng FX hay Vàng thế giới
2. Tuyệt đối tuân thủ stop loss và tuân thủ kỉ
luật: thà chấp nhận cut loss để vào trạng thái khác. ==> khôn ngoan
3. Đừng bao giờ quá tham vọn, tham lam hay đặt
mục tiêu quá cao: Chẳng hạn như bạn Bán giá $1,385, kì vọng bạn là $1,350 nhưng
khi Vàng xuống $1,356 bạn đừng quá tham mà không chốt lời, chờ nó xuống $1,350
hay thấp hơn nhưng nó không xuống thêm mà quay đầu tăng lại trên $1,400 ===>
xem như mất cả chì lẫn chài.
4. Phải có tính kiên nhẫn nhạy bén, và có cái
đầu lạnh: nghĩa là trade vàng đừng quá hấp tấp, phải kiên nhẫn. Ví dụ: ta Mua
$1,380. ( dự tính cut loss tuyêt đối tại $1,374) nhưng khi Mua mà giá có giảm
$1,378, $1,376.... rồi ta sợ ta nhảy và Bán lại... nhưng sau đó Vàng tăng vù
vù. Do đó khi Mua hay Bán thì cứ kiên nhẫn chờ đợi, chừng nào chạm cut loss thì
cắt, không thì thôi. Tuyệt đối không tin vào những lời đồn đoán. Chỉ tham khảo!
5. Quên đi khái niệm giá cao, giá thấp của
Vàng: Khi chúng ta trade Vàng chúng ta cứ trade theo xu hướng chủ đạo của thị
trường, take profit theo kì vọng, khi đó cho dù Vàng có tăng hay giảm gì ta
cũng take profit được. Chính thời điểm hay thời cơ sẽ cho ta thắng lợi. Cứ theo
xu hướng chính mà đánh. Thắng cao!
6. Làm sao xác định xu hướng chính của Vàng?
Thông thường xu hướng chính, xu hướng chủ đạo của Vàng sẽ ở Phiên Mỹ. Nếu trong
Phiên Mỹ xu hướnbg là Tăng thì Phiên Á, Phiên Âu liền sau đó là chủ đạo tăng
hay ngược lại. Còn nếu xu hướng vàng tại Phiên Mỹ là sideway thì 2 phiên Á, Âu
tiếp theo khả năng sideway cho đến giảm là cao.
7. Biết cách nắm bắt và phân tích các hot news
kịp thời ( để chạy trước). Vì dụ như tin Trung Quốc tăng LSCB thì phải Bán là
chủ đạo
8. Nên nhớ Vàng phụ thuộc rất nhiều vào tin
của Mỹ, do đó khi tin Mỹ xấu vàng thường Tăng, khi Mỹ Tốt Vàng thường giảm.
Trong mọi trường hợp thì tin là cái quan trọng nhất nó sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ
các cặp tiền vào thời điểm tin đó đưa ra. Ngoài trừ dầu và vàng nó không có quy
luật lên xuống rõ ràng thì hầu như các cặp tiền nó đều có những biến động lâu
và dài hơn, có thể nói khi mà một cặp tiền cứ xuôi theo trend là nó sẽ có những
cái đỉnh và đáy được thiết lập và theo thời gian cái trend đó ngày càng dài ra,
khi mà độ dài của cái trend đó đủ mạnh thì nó sẽ tạo sốt ở thời điểm sau tùy
theo mức độ sốt nóng hay lạnh lâu dài thì lúc đó là vàng và dầu sẽ ảnh hưởng
mạnh với xu thế đó
9. Khi Vàng bắt đầu tại Phiên Mỹ, các bạn chú
ý 3 mốc thời gian sau đây: Lúc Phiên Mỹ bắt đầu ( 19h20 hoặc 20h20, tùy theo
mùa mà sẽ có 1 trong 2 mốc giờ trên) nếu Vàng giảm 1 lèo trên $10 mà sau (21h30
hay 22h30, tùy theo mùa) Vàng hồi phục lại gần $10 thì xem xét Mua lại Ngay.
Còn nếu Vàng không hồi phục mà tăng giảm hồi phục nhưng đà tăng yếu hơn đà giảm
thì có nghĩa là Vàng sẽ còn giảm tiếp nữa ===> Canh Bán ngay. Sau 23h30 hay
sau 24h30, tùy theo mùa) thì thông thường vàng sẽ sideway ở giá hiện tại thời
điểm đó ===> có thể yên tâm giữ lệnh hay chốt lời. Tương tự cho trường hợp
Vàng tăng. Chú ý: Sau 21h30 hay sau 22h30 xu hướng vàng tăng hay giảm sẽ là xu
hướng chính của Vàng cho đến thời điểm close. Cho nên khi vào đầu phiên Mỹ Vàng
có tăng hay giảm 1 lèo $10 - $20 cũng không ăn thua, ăn thua là sau 21h30 hay
sau 22h30 Vàng có bị đảo chiều không? Nếu không đảo chiều thì ta yên tâm.
10. Chú ý 3 yếu tố: Tin hot news, USDX, và giá
của bạc, bạch Kim và cả chứng khoán Mỹ. Vì khi ta nhìn vào USDX và kết hợp với
nhìn vào giá của Bạch Kim, Bạc ta có thể suy ra xu hướng tiếp của Vàng.
Ví
dụ cụ thể cho hôm nay: Tin Mỹ hay tin hot news là tin LSCB của Trung Quốc tăng
===> kì vọng Vàng giảm.
- USDX hiện tại đang giảm ===> hổ trợ
chút ít cho Vàng
- Bạc đang giảm nhẹ ( mức giảm ít hơn vàng,
nhìn vào tỷ lệ % tăng, giảm của bạc mà so sánh tỷ lệ % tăng giảm của Vàng)
==> mức giảm ít hơn Vàng ===> cũng hổ trợ Vàng khó giảm mạnh hơn
- Bạch Kim đang tăng $18 lên $1,731.
===> Bạch Kim không giảm mà tăng ===> hổ trợ Vàng khó giảm thêm
Tổng
hợp các yếu tố đó lại xem xét đến Vàng thì Vàng đang giảm nhẹ ( không tăng),
tương ứng với USDX giảm, Bạc giảm nhưng không đáng kể, Bạch Kim Tăng ===>
Vàng không thể giảm thêm hiện tại. Trừ khi đột nhiên các thứ trên đột ngột giảm
mạnh thì vàng sẽ giảm mạnh.
Do
đó, khả năng đêm nay vàng khó bị giảm dưới $1,380. Mà sideway nhiều hơn do nhìn
vào các hàng hóa kim loại khác như Bạc, bạch kim, Palladium tăng. Tuy nhiên do
hot news từ Trung Quốc vẫn mạnh nên vàng không tăng được mạnh. ===> Xem xét
Mua quanh trên dưới $1,380.
Bài 2: Những yếu tố
ảnh hưởng đến gía vàng.
Trước
hết, vàng là một loại hàng hóa, do đó dao động giá của vàng phải được xem xét
dựa trên các yếu tố tác động của cung và cầu. Nguồn cung vàng trên thế giới đến
từ các quốc gia có trữ lượng vàng lớn và sản lượng xuất khẩu có tầm ảnh hưởng
đến thị trường như Nam Phi, Mỹ ,
Canada , Nga,
Úc...
Xét
về nhu cầu vàng thì phải thấy rằng, toàn thế giới đều muốn có thứ kim loại này
và tùy vào mục đích sử dụng mà có những nhu cầu khác nhau: phục vụ cho hoạt
động chế tác trang sức, tích lũy, đầu tư, thanh toán…
Tùy
vào từng thời điểm mà nhu cầu tăng cao trong những thời kỳ khác nhau và đôi khi
xảy ra cùng lúc, do đó tác động mạnh đến cầu vàng trong cùng thời điểm.
Hiện
nay, USD được xem là đồng tiền mang tính thanh toán toàn cầu, do đó theo thông
lệ, các loại hàng hóa hay ngoại tệ khi giao dịch trên thế giới thường được định
giá theo USD và vàng cũng không ngoại lệ. Chính vì vậy, bất cứ tác động nào ảnh
hưởng đến giá trị đồng USD thì cũng tác động trực tiếp đến biến động giá cả của
vàng.
Khi
xem xét giá trị đồng USD, người ta thường đánh giá thông qua nền kinh tế Mỹ và
những yếu tố chính được xem là “chỉ báo” phản ánh sức mạnh hay suy yếu của nền
kinh tế Mỹ, đó là tình trạng thị trường nhà ở, thị trường lao động, thị trường
tín dụng và thị trường vốn. Ngoài ra, một chỉ báo không thể không kể đến khi
đánh giá giá trị đồng USD, đó là quyết định về lãi suất của Cục Dự trữ Liên
bang Mỹ (FED). Bất kỳ quyết định nào ảnh hưởng đến việc tăng hay giảm, giữ
nguyên lãi suất của Mỹ do FED công bố qua các kỳ họp của Ủy ban Thị trường mở
Liên bang (FOMC) đều tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến giá trị đồng USD.
Dù
quyết định tăng/giảm lãi suất của FED với mục đích kích thích hay kìm hãm tốc
độ phát triển của nền kinh tế hay nhằm giải quyết các vấn đề khác thì trong
ngắn hạn hay tức thời, quyết định tăng/giảm lãi suất của Mỹ cũng sẽ làm
tăng/giảm giá trị của đồng USD do trong ngắn hạn hay tức thời, giá trị của đồng
USD được nâng lên/hạ xuống so với các ngoại tệ khác trong mối tương quan so
sánh.
Khi
giá trị của đồng USD dao động, giá trị các loại hàng hóa được định giá bằng USD
cũng dao động tức thời theo quyết định của FED. Ví dụ, trước khi FED cắt giảm
lãi suất cơ bản, 1 ounce vàng có giá là 1000 USD nhưng khi FED cắt giảm lãi
suất thì vàng “vô tình” bị định giá thấp do USD mất giá nên thị trường sẽ tự
động điều chỉnh bằng cách nâng giá vàng lên, trong trường hợp này 1 ounce vàng
sẽ có giá là 1050 USD....
Như
vậy ý Taichinhthegioi muốn nói là vàng bị tác động chính bởi USD, mà USD được
quyết định bởi FED mà các quyết định bởi FED được dựa trên các tin kinh tế vĩ
mô của Mỹ. Như vậy: Những tin Vĩ Mô nào cũng Mỹ ảnh hưởng mạnh nhất đến Vàng???
1. Tin Bảng lương phi nông nghiệp Mỹ
và Tin Tỷ lệ thất nghiệp.
* Ý nghĩa bảng lương phi nông nghiệp
của Mỹ
Đây
là một trong những bản báo cáo được mong đợi nhất của Mỹ, Non-farm payrolls là
một bản báo cáo kịp thời về bức tranh của thị trường việc làm ở Mỹ : gia tăng,
tụt giảm, số giờ làm việc, số lương thưởng ... Những tư liệu trong bản báo cáo
được thu thập từ 2 cuộc khảo sát là Household Surveys và Establishment (
payroll) Survey ( Báo cáo theo hộ gia đình và báo cáo theo bảng lương).
Trong
đó Establishment Survey được ưa chuộng hơn vì bản báo cáo này đánh giá tình
trạng của các doanh nghiệp chứ ko chỉ gói gọn trong các hộ gia đình. Bản báo
cáo có những chỉ số đầy ý nghĩa như : Change in nonfarm payrolls, Unemployment,
Manufacturing Payrolls, và
Average Hourly Earnings.
Trong
quá trình khai thác cũng như phân tích về bản báo cáo mình sẽ có cơ hội để mở
ra trước mắt các bạn nhiều hơn nữa những news và yếu tố liên quan đến tình
trạng lao động.
Nonfarm Payrolls ( NFP)
Nonfarm
payrolls (NFP) là một báo cáo về tình hình kinh tế của Mỹ được thông báo hàng
tháng.
Tên
của bản báo cáo được biên soạn để sử dụng cho những công ty về sản xuất, xây
dựng, và các công ty chế tạo sản phẩm. Ban Thống Kê Lao động của bộ Lao động
cho ra những tài liệu sơ bộ của cuộc khảo sát dành cho tháng trước đó. Tin ra
vào thời điểm 8h30 ET thức đầu tiên của hàng tháng, hoặc theo Ban này bản báo
cáo sẽ được đưa ra vào thứ 6 thứ 3 trong tháng sau khi có kết luận về tài liệu
của tuần
Các
con số về NFP được sử dụng để đại diện cho số công việc gia tăng hay mất đi
trong kinh tế trong tháng gần nhất, ko bao gồm những công việc liên quan đến ngành
công nghiệp trồng trọt. Vì ngành này thường có tính chất thuê nhân công theo
mùa mà điều này sẽ làm cho chỉ số xung quanh thời điểm gặt ko còn chính xác nữa
( vì các nông trang thường tăng thêm số công nhân và sau đó thì chỉ số vào mùa
gặt mới được công bố). Bản báo cáo này cũng cho biết về số giờ làm việc trung
bình hàng tuần và số thu nhập kiếm được bình theo tuần của tất cả những công
nhân thuộc những ngành có trong báo cáo.
NFP bao gồm các thông tin sau :
- Sự thay đổi về chỉ số NFP
- Tỉ lệ thất nghiệp
- Thay đổi về chỉ số Manufacturing Payrolls
: chỉ số Payrolls dành riêng cho các ngành sản xuất.
- Thu nhập trung bình tính theo giờ
- Số giờ làm việc trung bình tính theo
tuần.
Nói
chung báo cáo phản ánh khoảng 80% tổng số công nhân làm việc để tăng sản lượng
GDP của Mỹ và đưowjc sử dụng để hỗ trợ các chính khách và các nhà kinh tế đưa
ra những chính xác mới để quyết định hiện trạng của kinh tế và phỏng đoán tương
lai.
Ý nghĩa của NFP đối với nền kinh tế:
Nói
chung, khi chỉ số lao động gia tăng có nghĩa là các công ty đang phát triển và
cần tuyển dụng nhân lực và điều đó cũng đồng nghĩa với việc nhiều người sẽ có
việc làm và có tiền để chi tiêu vào các sản phẩm hay dịch vụ giúp kích thích
phát triển. Điều ngược lại cũng hoàn toàn đúng trong trường hợp NFP hạ.
Ý nghĩa của Nonfarm với thị trường
tài chính:
Trong
khi tổng số việc làm tăng lên hay giảm đi đối với nền kinh tế là một kim chỉ
nam rất quan trọng cho hiện trạng kinh tế thì báo cáo này lãi có những thông kê
mà hoàn toàn có ảnh hưởng đến thị trường tài chính:
- Chỉ số thất nghiệp đối với kinh tế như
một tỷ lệ của toàn bộ lực lượng lao động. Đây là một phần quan trọng của bản
báo cáo vì số người thất nghiệp là một dấu hiệu của tổng thể kinh tế, và đây là
một con số được ngân hàng Liên Bang theo dõi rất kĩ vì khi chỉ số này hạ xuống
mức qúa thấp ( thường là dứới 5%) thì lạm phát sẽ bắt đầu hình thành vì các
doanh nghiệp sẽ phải trả nhiều tiền hơn để thuê những thợ lành nghề và việc giá
thành sản phẩm gia tăng cũng là điều đương nhiên.
- Chỉ ra bộ phận nào có sự tăng hay giảm về
công việc: Bản baó cáo có thể đưa ra sự cảnh báo cho những trader về mảng kinh
tế nào có thể bung nổ phát triển.
- Thu nhập trung bình hàng giờ : Đây là một
yếu tố quan trọng vì nếu cùng một lượng nhân công như nhau nhưng lại kiếm nhiều
hơn hay ít hơn cho một khối lượng công việc , điều này về căn bản là nói lên
việc cần phải tăng hay giảm nhân công cho khối lượng công việc đó.
- Dùng để xem lại chỉ số của lần ra tin NFP
trước đó: Một yếu tố quan trọng khác của báo cáo là có thể gây ra những biến
động trong thị trường vì traders tự lên khung những chiều hướng phát triển của
news dựa vào chỉ số cũ.
2. Tin
Lạm phát CPI
3. Tin
Nhà đất Mỹ
4. Tin
GDP
5. Tin
niềm tin tiêu dùng hay tin khảo sát niềm tin
6. Thông
tin sản xuất và buôn bán lẻ của Mỹ
===>
Nếu 6 thông tin trên Tốt ===> chứng tỏ kinh tế Mỹ dần hồi phục ===> tạo
công ăn việc làm cho người dân Mỹ ===> Tỷ lệ thất nghiệp giảm ===> tác
động đến chính sách lãi suất Mỹ ===> làm cho USD tăng giá ===> làm cho
Vàng giảm.
Do đó, yếu tố thứ 7 chính là FED. Sẽ
tác động rất mạnh lên Vàng. Nên mọi lời phát biểu của FED rất đáng lưu ý vì nó
sẽ tác động rất mạnh lên vàng.
Song song đó, ngoài những yếu tố
thông tin kinh tế Mỹ nêu trên tác động mạnh đến Vàng còn có những yếu tố sau
đây!
- Chính sách lãi suất của các nước lớn khác
so với Mỹ như Trung quốc, Úc ,
Canada , Châu
Âu....
- Tình hình nợ công của các nước lớn khác,
điển hình là Châu Âu.
- Căng thẳng chính trị giữa các nước , làm
phức tạp thêm tình hình, gây nguy cơ chiến tranh
- Nguồn cung của Vàng và tâm lí traders
***
Khi Vàng tăng hay giảm mạnh đều có lí do và nguyên nhân, do đó chúng ta phải tự
mình đặt ra câu hỏi là " TẠI SAO VÀNG GIẢM MẠNH HAY VÀNG TĂNG MẠNH?",
" Và nếu lí do đó được duy trì thì liệu vàng có còn tiếp tục tăng hay nếu
nhân tố đó mất đi thì Vàng sẽ thế nào?". Chúng ta phải tìn ra được nguyên
nhân và lí do khiến Vàng tăng hay giảm mạnh để từ đó sẽ có câu trả lời chính
xác.
Ví
dụ cụ thể: Vàng đang tăng mạnh lên $1,400 do những nguyên nhân sau: LSCB Mỹ và
1 số nước như kv Châu Âu thấp ==> lạm phát, chính sách "tung" tiền
ra thị trường ===> làm Tiền mất giá ==> vàng trở thành công cụ thay thế,
tình hình nợ công châu Âu, kinh tế Mỹ còn yếu thông qua tỷ lệ thất nghiệp cao.
Như
vậy nếu các yếu tố trên vẫn còn bền vững thì Vàng sẽ tiếp tục tăng, và ngược
lại Vàng phải giảm mạnh do vai trò phònhg thủ đầu tự thay thế của vàng bị mất
trước tình hình kinh tế phát triển ===> LSCB được tăng ===> Tiền có gái
trị hơn ===> Vàng phải giảm.
Và yếu tố nào giúp ta nhận ra tình
hình kinh tế Mỹ hay thế giới đã ổn định và khả quan hay chưa? Đó là các thông
tin kinh tế Vĩ Mô của Mỹ, Châu Âu, Trung Quốc, Anh, Canada, Úc...công bố hàng
tuần.
Tóm
lại:
Taichinhthegioi
viết nãy giờ khá dài dòng, nay xin tóm lại thật ngắn gọn như sau:
Vàng bi tác động bởi
các nhan tố:
1. Tin kinh tế vĩ mô Mỹ (tin lao động việc
làm, tin nhà đất, tin sản xuất, tin GDP, Tin niềm tin tiêu dùng và đặc biệt là
tin FED)
2. Ảnh hưởng bởi tình hình nợ công các nước
3. Chính sách tiền tệ của các nước lớn khác
trên thế gới
4. Căng thẳng chính trị
5. Nguồn cung và cái chính là tâm lí traders.
Dưới
đây, Taichinhthegioi xin trình bày thêm các nhân tố tác động đến đồng USD. Vì
thông qua đồng USD mạnh hay yếu sẽ tác động đến Vàng tăng hay giảm
Các nhân tố ảnh hưởng đến đồng USD
Sơ
nét một số các chỉ số, thông tin kinh tế và các nhân tố ảnh hưởng chính của Mỹ
thường được sử dụng trong phân tích
a) Thông tin kinh tế
- Tổng sản phẩm quốc nội (GDP): Bất cứ một
quốc gia nào cũng muốn duy trì một nền kinh tế tăng trưởng cùng với sự ổn định
tiền tệ và công ăn việc làm cho dân cư mà GDP là một trong những tín hiệu cụ
thể của những nỗ lực của chính phủ. Vì thế việc nghiên cứu khuynh hướng của sự
tăng trưởng GDP, tỉ lệ thất nghiệp cũng như tỉ lệ lạm phát giúp chính phủ có
thể thay đổi chính sách tiền tệ để đạt được những mục tiêu đã đề ra. Ví dụ khi
có thông tin GDP của nước nào đó tăng lên thì đó là tin tốt cho đồng tiền nước
đó…
- Chỉ số giá cả tiêu dùng(CPI): Là một
trong những chỉ số kinh tế quan trọng của một quốc gia. Vì vậy sự gia tăng
nhanh hoặc giảm nhanh của lạm phát là một dấu hiệu cho thấy rất có khả năng có
một sự thay đổi trong chính sách tiền tệ.
- Sản lượng công nghiệp (Industrial
Production): Vì giá trị của ngành công nghiệp chiếm một tỉ trọng lớn trong GDP
nên một sự thay đổi nhỏ của chỉ số này cũng có thể gây ra những thay đổi lớn về
tốc độ tăng trưởng GDP và vì thế sẽ ảnh hưởng đến thị trường tiền tệ của mỗi
quốc gia.
- Số lượng hàng hóa bán lẻ (Retail sales): Bằng
việc theo dõi số lượng hàng hóa bán lẻ trong một thời gian nhất định chính phủ
có thể đánh giá được một cách gần chính xác sự tăng trưởng của việc tiêu dùng
cá nhân của dân cư, mà việc tiêu dùng của xã hội đóng góp rất lớn vào giá trị
của GDP.
-
Hàng tồn kho (Inventories): Tỉ lệ hàng tồn kho là một yếu tố quan trọng đối với
sự phát triển của nền kinh tế. Ví dụ nếu tỉ lệ tồn kho tăng cao tức là sức mua
trong nền kinh tế đang có chiều hướng giảm sút sẽ gây ảnh hưởng đến hoạt động
sản xuất hàng hóa trong nền kinh tế và ngược lại.
……….
-
Ngoài ra trên thị trường còn có rất nhiều các chỉ số quan trong khác mà bất cứ
một dealer nào cũng quan tâm như: cung tiền M2, chỉ số thất nghiệp, doanh số
nhà mới khởi công, doanh số bán nhà hiện có, đơn hàng nhà máy, đơn hàng hoá lâu
bền, chi tiêu tiêu dùng, thu nhập cá nhân, bảng lương phi nông nghiệp, chỉ số
ISM ngành sản xuất và dịch vụ, cán cân thương mại…
b)- FED-FOMC- Fed fund Rate &
Discuont rate
Federal Reserve Bank ( FED): Cục dự
trữ liên bang Mỹ.
Được
toàn quyền thiết lập chính sách tiền tệ của Mỹ với mục tiêu tăng trưởng kinh tế
cao và lạm phát thấp. chính sách chính của FED được thể hiện ở hoạt động thị
trường mở, lãi suất chiết khấu ( Discuont rate), lãi suất mục tiêu (Fed Fund
rate).
Federal
Open Market Committee ( FOMC): ủy ban điều hành thị trường mở, chịu trách nhiệm
ra quyết định điều hành chính sách tiền tệ, quan trọng là công bố lãi suất cơ
bản 8 lần/ năm. 12 thành viên của hội đồng bao gồm 7 thành viên của hội đồng
thống đốc ( Board of Governors), chủ tịch của ngân hàng dự trữ New York (
Federal Reserve Bank of New York), và 4 thành viên còn lại được luân phiên giữa
chủ tịch 11 Ngân hàng dự trữ còn lại.
Fed
fund Rate (lãi suất mục tiêu, lãi suất cơ bản của đồng USD): đây là mức lãi
suất quan trọng nhất, nó là mức lãi suất mà các tổ chức tài chính sử dụng cho
những khoản vay nợ hay gửi tiền qua đêm. Thông thường khi có sự thay đổi trong
mức lãi suất này ám chỉ dấu hiệu sự thay đổi trong chính sách tiện tệ của Fed.
Những thông báo liên quan tới vấn đề này gây ảnh hưởng rất lớn lên thị trường
chứng khoán, trái phiếu, thị trường ngoại hối.
Discuont
rate (lãi suất chiết khấu): lãi suất mà Fed áp dụng cho ngân hàng thương mại
khi vay lại Fed, sự thay đổi trong mức lãi suất này cũng ám chỉ đến chính sách tiền
tệ của Fed. Thông thường discount rate thấp hơn Fed Fund rate.
c) Trái phiếu và lãi suất kỳ hạn 3
tháng của USD
-10
year treasury note: lãi suất trái phiếu 10 năm.
Sau
khi phát hành trái phiếu kỳ hạn 30 năm chấm dứt vào tháng 10/2001. Trái phiếu
kỳ hạn 10 năm trở thành tiêu chuẩn cho mức lãi suất dài hạn. Đó là dấu hiệu
quan trọng nhất trên thị trường về tín hiệu lạm phát. Thông thường thị trường
dùng mức lợi tức ( hơn là giá) để xác định mức độ trái phiếu. Giá trái phiếu có
tỷ lệ nghịch chiều với tỷ lệ lãi suất.
Không
có mối quan hệ rõ ràng giữa trái phiếu dài hạn và đồng USD tuy nhiên có thể sử
dụng ý tưởng sau: một sự sụt giảm trong giá trị của trái phiếu ( do lợi tức
tăng) thông thường do tác động của lạm phát tăng có thể gây áp lực lên USD.
- Lợi tức 10 năm trái phiếu: thị trường
trái phiếu ngoại hối thường đánh giá sự khác biệt giữa lợi tức trái phiếu kỳ
hạn 10 năm với các loại trái phiếu cùng kỳ hạn của các nước khác như Đức (
German 10 year bund), Nhật (10 year JGB), Anh (10 year gilt), sự chênh lệnh có
thể tác động đến biến động tỷ giá, thường thì một sự gia tăng của lợi tức 10
năm của trái phiếu Mỹ làm cho đồng USD tăng giá.
- 3 month Eurodollar Deposits: đây là mức
lãi suất kỳ hạn 3 tháng của USD tại các ngân hàng ngoài biên giới nước Mỹ.
Thông
thường được sử dụng như một tiêu chuẩn trong việc xác định sự chênh lệch lãi
suất từ đó có thể dự báo biến động tỷ giá. Ví dụ như trường hợp tỷ giá USDJPY,
nếu như lãi suất chênh lệch giữa eursdollar và euryen càng lớn thì khả năng tỷ
giá USDJPY bị tác động theo xu hướng tăng lên.
d) Các nhà chính trị hay các lãnh đạo
kinh tế
Các
thành viên chính phủ hay những người đứng đầu các ngân hàng trung ương, chính
những người này có thể gây ảnh hưởng tới giá trị của một loại tiền tệ nào đó
qua những gì họ noí, những gì họ làm. Các chức vụ quan trọng như: tổng thống,
thủ tướng, thống đốc hay chủ tịch các ngân hàng… luôn có sự thay đổi theo nhiệm
kỳ hay có lý do khác. Nhưng chúng luôn được quan tâm chặt chẽ từ các nhà đầu
tư, dù ai ngồi vào các vị trí đó thì những quyết sách của họ đều rất quan trọng
và đều có những thay đổi, những tác động nhất định tới thị trường ngoại hối.
Ở
NHTW, đối với Mỹ là Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) thì khi tỷ giá biến động theo
một chiều hướng bất lợi tác động xấu tới nền kinh tế, NHTW có thể can thiệp vào
nhằm ổn định tỷ giá và đưa tỷ giá trở về tầm kiểm soát theo hướng có lợi cho
chính sách tiền tệ. Việc can thiệp này trong những năm gần đây thường thực hiện
bằng hai cách: can thiệp miệng ( verbal intervention) hoặc can thiệp trực tiếp
vào thị trường.
e) Những nhân tố chính trị ( ví dụ
điển hình)
Những
nhân tố chính trị đôi khi có thể tác động và gây ra ảnh hưởng lớn đến biến động
tỷ giá. Nó làm tỷ giá biến động khá nhanh và mạnh tùy theo từng trường hợp có
thể kéo dài hay chấm dứt nhanh chóng.
- Việc Anh gia nhập EU.
- Việc các nước Châu Âu không ký hiệp ước
Châu Âu.
- Việc bầu cử tổng thống Mỹ.
- Việc ông Sarkozy thắng cử tổng thống
Pháp.
- Căng thẳng Trung Đông, Bắc Triều Tiên…
- Vấn đề định giá lại CNY.
Ngoài những yếu tố cơ bản trên thì
những nguyên nhân sau làm biến động tỷ giá như:
+ Sự gia tăng đáng kể các thành viên tham
gia thị trường nhằm mục đích tìm kiếm các cơ hội sinh lới khi tỷ giá biến động.
đối với các đối tượng này thì tỷ giá biến động theo hướng nào là không quan
trọng cái chính họ cần là thị trường phải biến động.
+ Các luồng vốn di chuyển nhằm thanh toán sự
mất cân đối trong cán cân thanh toán quốc tế giữa các quốc gia.Các nhà đi vay
cũng có xu hướng tìm kiếm các nguồn vốn bằng các đồng tiền khác nhau nhằm giảm
chi phí vay, các quỹ đầu tư cũng di chuyển nguồn vốn vào các đồng tiền có lợi
nhuận cao nhất. Cộng thêm các biến động về lãi suất càng làm các quá trình trên
diễn ra mạnh mẽ.
Các nhà đầu cơ trên thị trường bao
gồm:
1.Nhà
đầu cơ hay leveraged investor (Hedge fund).
2.Định
chề đầu tư (pension fund, thường thông qua các công ty quản lý tài sản,
investmen bank)
3.Các
công ty
4.Các
loại khác (bao gồm cả các NHTW)
+ Tỷ giá chéo: tỷ giá USD và một đồng tiền
khác đôi khi bị ảnh hưởng bởi các cặp tỷ giá khác. Ví dụ như một sự gia tăng
nhanh chóng của đồng JPY so với EUR (EURJPY) tạo nên một sự mất giá của EUR,
bao gồm luôn cả sự sụt giảm EURUSD.
+ Tác động của nhân tố mang tính chu kỳ: Đây
là các hoạt động ngoại có tính chất lặp lại hàng năm trong những thời điểm nhất
định, có thể gây ra những biến động tỷ giá mà ta có thể định trước, tuy nhiên
quá trình này không phải lúc nào cũng xảy ra giống nhau mà có thể có sự điều
chỉnh biến động khác đi.
+ Tác động của những nhân tố khác: Những
nhân tố khác, ít xảy ra thường xuyên cũng có tác động lớn tới biến động tỷ giá
như các kỳ họp của G7, IMF, hội nghị kinh tế các nước, các khu vực … các thông
tin mua bán, sát nhập các công ty có giá trị trên hàng tỷ USD.
Hết
bài 2
Bài 3: Cách nhận biết
xu hướng Vàng Thế giới, cách đón đỉnh, bắt đáy, cách chốt lời, cắt lỗ cũng như
cách phân biệt giảm điều chỉnh hay sell off.
1. Cách nhận biết xu hướng Vàng Thế
giới là tăng hay giảm?
Trước
hết Taichinhthegioi xin nói là Vàng Tăng hay Giảm điều có nguyên nhân của nó.
Một sự bất ổn về tiền tệ hay lạm phát, căng thẳng chính trị, kinh tế yếu kém,
lãi suất thấp… đều là những nhân tố hổ trợ Xu hướng Tăng của Vàng. Ngược lại
nếu các yếu tố trên Tốt và sẽ Giảm.
** Nhân biết xu hướng Tăng ( tất
nhiên phải có kèm theo các nhân tố hỗ trợ)
-
Khi bắt đầu một xu hướng tăng thì trước đó vàng phải từ đà tăng giảm xuống để
hình thành trend giảm. Chúng ta chú ý trend giảm này giảm đến đâu? Và trụ được
tại đó bao lâu? Nếu ngày qua ngày càng mức close càng thấp hơn, thì trend giảm
vẫn còn, nhưng nếu ngày qua ngày mức close cao hơn, hay mức close tăng giảm zic
zac tại điểm nào đó, hay vàng xoay quanh điểm nào đó trong vòng 1 tuần lễ đến
10 ngày ( nghĩa là nếu Vàng có giảm xuống và tăng gì cũng về trở lại mức cũ)
rồi sao đó đột nhiên tăng và close 1 cái tăng từ $5 - $10 so dấu hiện Vàng sắp
đảo chiều là Tăng, rồi ngày Vàng đã trong xu thế Tăng và canh MUA theo. Lúc này
ta phải tự mình đặt ra các cản cứng xem Vàng có break được không? Nếu break
được và sao đó close với giá trên điểm Vàng break được thì xem như trend tăng
vẫn còn ( nếu Vàng break được cản mạnh nhưng không close được trên cản cứng đó,
thì xem như Vàng chưa thực sự Tăng vững). Cứ thế xem xét đà Tăng của vàng theo
từng ngày với giá close. Miển sao giá close trong 3 ngày liên tiếp không được
thấp hơn liên tục thì Vàng vẫn trong trend tăng. Nếu giá close 2 ngày close tục
bị giảm thì đà tăng của Vàng có nguy cơ bị kết thúc, còn nếu trong 3 ngày giảm
thì chắc chắn đà tăng của Vàng kết thúc, mở ra hướng giảm. Còn trong trường hợp
giá close 1 ngày tăng, 1 ngày giảm thì không sao. Nhưng không được close theo
kiểu ngày hôm nay giảm $10 - $15, ngày mai tăng nhẹ chỉ $5 so với giá close hôm
qua, và ngày kế nữa giảm $10. Tuy có ngày tăng ngày giảm nhưng mức giảm nhiều
hơn Tăng là cũng rơi vào nguy cơ đảo chiều giảm. Đà tăng vẫn còn khi mức giá
close tăng giảm hầu như ngang như là được. Tiếp tục xem xét nếu đà tăng đã quá
yếu (khi nhiều lần không break được các mức cản tiếp theo) là Vàng đang sắp đảo
chiều..
** Nhân biết xu hướng Giảm ( tất
nhiên phải có kèm theo các nhân tố hỗ trợ)
-
Khi bắt đầu một xu hướng giảm thì trước đó vàng phải từ đà giảm và tăng lên để
hình thành trend tăng. Chúng ta chú ý trend Tăng này tăng đến đâu? Và trụ được
tại đó bao lâu? Nếu ngày qua ngày càng mức close càng tăng cao hơn, thì trend
tăng vẫn còn, nhưng nếu ngày qua ngày mức close giảm thấp hơn, hay mức close
tăng giảm zic zac tại điểm nào đó, hay vàng xoay quanh điểm nào đó trong vòng 1
tuần lễ đến 10 ngày ( nghĩa là nếu Vàng có giảm xuống và tăng gì cũng về trở
lại mức cũ) rồi sao đó đột nhiên tăng và close 1 cái giảm từ trên $5 - $10 so
với giá mà nó xoay quanh cả tuần lễ hơn dấu hiện Vàng sắp đảo chiều
Vàng
đã trong xu thế Giảm và canh Bán theo. Lúc này ta phải tự mình đặt ra các hổ
trơg xem Vàng có break được không? Nếu break được và sao đó close với giá dưới
điểm Vàng break được thì xem như trend tăng vẫn còn ( nếu Vàng break được cản
hưng không close được dưới cản hổ trợ đó, thì xem như Vàng chưa thực sự giảm
bền vững). Cứ thế xem xét đà Giảm của vàng theo từng ngày với giá close. Miển
sao giá close trong 3 ngày liên tiếp không được tăng cao hơn liên tục thì Vàng
vẫn
trong trend giảm. Nếu giá close 2 ngày close tục bị tăng thì đà giảm của Vàng
có nguy cơ bị kết thúc, còn nếu trong 3 ngày tăng thì chắc chắn đà giảm của
Vàng kết thúc, mở ra hướng tăng. Còn trong trường hợp giá close 1 ngày tăng, 1
ngày giảm thì không sao. Nhưng không được close theo kiểu ngày hôm nay tăng $10
- $15, ngày mai giảm nhẹ chỉ $5 so với giá close hôm qua, và ngày kế nữa tăng
$10. Tuy có ngày tăng ngày giảm nhưng mức Tăng nhiều hơn giảm là cũng rơi vào
nguy cơ đảo chiều giảm. Đà giảm vẫn còn khi mức giá close tăng giảm hầu như
ngang như là được. Tiếp tục xem xét nếu đà giảm đã quá yếu (khi nhiều lần không
break được các mức cản tiếp theo) là Vàng đang sắp đảo chiều..
2. Cách đón đỉnh, bắt đáy của vàng
thế giới.
Kết
hợp với phần cách nhận biết xu hướng Vàng Thế Giới là tăng hay giảm ta cần xem
xét những yếu tố sau:
** Cách bắt đáy: Xem xét các nhận
biết xu hướng Tăng của phần trên để biết vàng sắp hay khi nào đảo chiều?
Khi
Vàng giảm mạnh hay mở ra xu hướng giảm (sau khi tăng) thì chúng ta phải đu theo
trend để Bán mạnh theo, khi chúng ta thấy dầu hiệu Vàng giảm yếu đi hay thật
kiên nhẫn chờ Vàng đi hết quá trình giảm của nó. Làm sao biết Vàng đã sắp đi
xong quá trình giảm để chúng ta bắt đáy?
Chúng
ta phải chú ý và nhớ đến cái giá “đáy”
của kì liền kề trước đó là bao nhiêu? Chúng ta xem xem Vàng có khả năng break
qua đáy đó không? Nếu vàng break được qua đáy đó nhưng bật trở lại liền hay 2
phiên liên tục không thể phá vùng đáy đó. Thì lúc này ta có thể xem xét Mua vào
mạnh tay. Hoặc kí liền trước đáy vàng là $1,35x chẳng hạn, nhưng cứ đến $1,37x
hay $1,36x là Vàng vọt tăng trở lại và khoảng 2 đến 3 lần như vậy thì chúng ta
nên xem xét bắt đầu Mua vào lại là vừa. Một yếu tố nữa là khi Vàng sideway
quanh 1 vùng nào đó hơi lâu khoảng tuần lễ và đột nhiên có “ triệu chứng” tăng
nhẹ và close tăng đều trong 2 ngày liên tục trở lên và sau đó có giảm lại vẫn
giảm tại mức cũ mà nó sideway thì lúc này ta cũng cóm thể Mua vào được. Thêm
nữa là, chú ý kĩ phần này, khi Vàng đang ở ngưỡng sideway và có 1 số tin hổ trợ
cho Vàng và làm Vàng tăng thì cũng là lúc ta xem xét Mua vào khi Vàng giảm nhẹ
điều chỉnh. ( chú ý trong trường hợp này tính từ mức vàng sideway thì đà tăng
mạnh trong 1 phiên phải từ $15 - $25)
Một
nhân tố quan trọng mà chúng ta cần chú ý là xem xét Mua vào khi Vàng có mức
giảm trung bình $125 so với lúc tăng cuối cùng.
** Cách đón đỉnh : Xem xét các nhận
biết xu hướng giả của phần trên để biết vàng sắp hay khi nào đảo chiều?
Khi
Vàng tăng mạnh hay mở ra xu hướng tăng ( sau khi giảm) thì chúng ta phải đu
theo trend để Mua vào theo, khi chúng ta thấy dầu hiệu Vàng tăng yếu đi hay
thật kiên nhẫn chờ
Vàng
đi hết quá trình tăng của nó. Trong quá trình đó, hãy chú ý đến những dấu hiệu
nguy hiểm. Đó là khi trong phiên giao dịch, giá đột ngột rớt mạnh rồi lại phục
hồi ngay sau đó. Những ngày sau đó, giá có thể lên tiếp nhưng lực lên yếu dần
và không thể vượt qua những đỉnh cao mới. Lúc đó chúng ta nên cân nhắc chốt lời
và thoát khỏi thị trường. Làm sao biết Vàng đã sắp đi xong quá trình giảm để
chúng ta bắt đáy?
* Những dấu hiệu nhận biết vàng sắp
đảo chiều để giảm để Bắt đỉnh, Bán ra
Chúng
ta phải chú ý và nhớ đến cái giá “đình”
của kì liền kề trước đó là bao nhiêu? Chúng ta xem xem Vàng có khả năng break
qua đỉnh đó không? Nếu vàng break được qua đỉnh đó nhưng bật trở lại liền hay 2
phiên liên tục không thể phá vùng đỉnh đó. Thì lúc này ta có thể xem xét Bán ra
mạnh tay. Hoặc kí liền trước đỉnh vàng là $1,430 chẳng hạn, nhưng cứ đến $1,41x
hay $1,42xlà Vàng vọt giảm trở lại và khoảng 2 đến 3 lần như vậy thì chúng ta
nên xem xét bắt đầu Bán ra là vừa. Một yếu tố nữa là khi Vàng sideway quanh 1
vùng nào đó hơi lâu khoảng tuần lễ và đột nhiên có “ triệu chứng” giảm nhẹ và
close giảm đều trong 2 ngày liên tục trở lên và sau đó có tăng lại vẫn tăng tại
mức cũ mà nó sideway thì lúc này ta cũng cóm thể Bán ra được. Thêm nữa là, chú
ý kĩ phần này, khi Vàng đang ở ngưỡng sideway và có 1 số tin bất lợi cho Vàng
và làm Vàng giảm thì cũng là lúc ta xem xét Bán ra khi Vàng giảm điều chỉnh. (
chú ý trong trường hợp này tính từ mức vàng sideway thì đà giảm mạnh trong 1
phiên phải từ $15 - $25).
Một
nhân tố quan trọng mà chúng ta cần chú ý là xem xét Bán ra khi Vàng có mức tăng
trung bình $125 so với lúc giảm cuối cùng.
3 . Cách cắt lỗ cũng như chốt lời thế
nào cho hiệu quả?
Như
chúng ta đã biết và thế giới biến động vô cùng phức tạp và khó lường cho nên
chúng ta phải tuân thù cut loss và biết cách chốt lời cho thật hiệu quả.
Khi
bắt đầu 1 xu hướng mới, Vàng thường trụ tại xu hướng mới này khoảng 1 tuần cho
đến hơn cả tháng. Vì một xu hướng thật sự không kết thúc ngay khi nó bắt đầu.
Nó cần thời gian để đi hết tiến trình di chuyển hợp lý. Trong tiến trình đó sẽ
có nhiều đợt điều chỉnh xảy ra.
Trường hợp chốt lời.
Khi
chúng ta đang đi đúng hướng thì tất nhiên những lệnh mà chúng ta triển khai sẽ
cho ta 1 lợi nhuận to lớn, và để bảo vệ an toàn cho lợi nhuận đó chúng ta nên
di chuyển điểm cut loss để nhằm bảo đảm lợi nhuận của mình.
Giả
sử chúng ta đã đạt được lợi nhuận là 30 USD thì hãy di chuyển điểm cắt lỗ để
đảm bảo chúng ta giữ được 25 lợi nhuận khi giá di chuyển theo hướng ngược lại.
Về trường hợp đặt mức dừng lỗ.
Như
Taichinhthegioi đã nói trong trade Vàng cần tuân thủ kĩ luật Stop loss. Thông
thường, mức cắt lỗ tối đa không quá 10%. Hãy hạn chế mức lỗ càng ít càng tốt.
Nếu sau khi đặt lệnh mà giá chạy ngược chiều khiến bạn thua lỗ, thì hãy cắt
ngay. Khi đó mức lỗ nằm trong phạm vi cho phép và chúng ta có thể bảo toàn được
vốn cho lần đặt lệnh sau. Và chúng ta nên xem xét mua lại quanh mức dừng lỗ để
chờ Bán tiếp ( nếu chúng ta kì vọng vàng giảm) hay ngược lại. Chính lệnh Mua
này sẽ bù lỗ phần nào cho ta ( có khi có lời) ở lệnh Bán trước đó bị lỗ. Nghĩa
là luôn tuân thủ stop loss để bảo toàn vốn và hạn chế rủi ro. Vì vậy, sau khi
đặt lệnh, nếu thấy giá chạy ngược chiều thì hãy cắt ngay và mua lướt hay bán
lướt để chờ bán hay mua tiếp hoặc đứng ra ngoài để nhìn nhận lại xu hướng thị
trường.
4. Cách phân biệt giảm điều chỉnh hay
Sell Off
A. Giảm điều chỉnh
Khi
Vàng đột nhiên giảm mạnh nhưng sau đó lực giảm yếu dần và mức close ngày này
qua ngày kia tuy có tăng giảm zic zac nhưng có mức tăng nhẹ, mức giảm trong 3
ngày liên tục không được giảm nhiều hơn $30. Thông thường giá điểu chỉnh giảm
chỉ khoảng $15 cho đến $20 rồi sau đó trở lại xu hướng chính là tăng.
Lưu
ý: không được có 3 ngày liên tục close giá thấp dần đều.
B. Giảm mạnh - Sell Off
Trạng
thái Sell Off là quá trình giảm giá, rớt giá liên tục, cường độ giảm cáng lúc
càng mạnh, và nếu sau khi rớt, giá có hồi lại nhưng sau đó giảm mạnh hơn. Thông
thường nếu vàng hồi lại 1 mà giảm lại đến 2 hay 3 là coi chừng sell off.
Quá
trình Sell off thông thường khoảng từ $100 đến $140.
Nếu
3 ngày liên tiếp giá close thấp dần đều và có tổng mức giảm trong 1 ngày là
khoảng $25 hay tổng 3 ngày liên tục là $35 - $40 thì vàng đang Sell off, quá
trình sell off sẽ còn tiếp tục ( canh hồi là chúng ta Bán), vì khi Sell off giá
sẽ giảm khoảng trên dưới $100 so với gia lúc đỉnh trước đó.
Bài Số 3B: Các Trade
Vàng lạc quan!
Phương
Pháp Trade Vàng lạc quan!
Phương
pháp này là 1 trong những phương do Taichinhthegioi nghĩ ra và Taichinhthegioi luôn
trade theo kiểu này, 99% không lỗ mà chỉ có lời.
Phương
pháp này là phương pháp mà khiến bạn không phải quá bận tâm là Vàng sắp tới
tăng hay giảm? Vàng đã tới đỉnh hay tới đáy chưa…? Nói chung phương pháp này
tránh cho tài khảon của ta bị thua lỗ
Đó
là phương pháp trade theo xu hướng chủ đạo của thị trường. Phương pháp này khởi
cần áp dụng tin tức cơ bản gì hết! Cứ đánh, trade lạc quan.
Muốn
áp dụng được phương pháp này bạn nên:
1. Tuân thủ Stop loss và đảo chiều đánh ( vì
dụ đang Bán, chạm stop loss chuyển sang Mua liền)
2. Xác định biên độ Vàng dao động, xác định
các cản cứng và cản hổ trợ cũng như mức phải take profit.
Chú
ý phương pháp này take profit hơi ít nhưng rất chắc ăn:
Trường hợp Bán ( Vì chúng ta kì vọng
vàng xuống)
Ví dụ: Bạn đặt lệnh Bán tại $1,414, dừng lỗ $1,417. Nếu
như xu hướng vàng như ý chúng ta là giảm thì chúng ta cứ chờ đợi take profit
nhưng nếu xu hướng Vàng tăng và chúng ta bị chạm Stop loss thì khi đó, chúng ta
phải Mua vào liền quanh mức Stop loss là $1,415 hay $1,416 chẳng hạn ( vì chắc
chắn rằng sau khi chạm Stop loss $1,417 vàng sẽ hồi xuống 1 chút tại $1,415 hay
$1,416, cho chắc ăn ta nên Mua vùng Stop loss trừ đi 1 usd. Sau đó ta phải xác
định điểm Bán tiếp hay điểm chốt lời. Ví dụ ta xác định điểm Bán tiếp là quanh
$1,421, dừng lỗ $1,425. Thì ta chốt lời lệnh Mua tại $1,420 rồi Bán. Tương tự
nếu chạm $1,425 dừng lỗ thì ta canh Mua tiếp quanh $1,424 rồi chốt lời và canh
Bán quanh $1,430.
Tổng kết lệnh Bán $1,414 đến $1,417 lỗ $3. Lệnh Mua $1,416 chốt tại
lãi
$4. Rồi lệnh Bán $1,420 đến $1,425 ==> lỗ $5. Lệnh Mua $1,424 chốt tại
quanh
$1,430 lời $6.
Suy
ra: -3 +4 -5 +6 = lãi $2, hoặc nếu ai có chốt vội vã cũng hều vốn hoặc lãi $1.
Tương
tự cho Trường Hợp Mua ( cho nên Taichinhthegioi xin không trình bày vì nó tương
tự)
Cách
trade này chỉ sử dụng khi mà Vàng đi nghịch kì vọng của ta. Nhưng chỉ được sử
dụng tối đa 3 lần. Vi1 dụ: Như ta kì vọng vàng giảm mà ta cứ Bán rối Mua, Mua
rồi Bán…từ lúc $1,415 cho đến $1,430 mà vàng vẫn tăng thì nên duy trì theo 1 hướng
luôn. ( Thông thường cách này chúng ta sẽ sử dụng tại Phiên Mỹ nhiều hơn khi nó
đi ngược với phân tích và kì vọng của ta).
Còn
Phiên Á và Phiên Âu thì trade rất đơn giản. Thông thường nếu Vàng phiên Mỹ Giảm
là Phiên Á và Phiên Âu sau đó xu hướng chính là Giảm, Phiên Mỹ tăng thì Phiên Á
và Phiên Âu sau đó xu hướng chính là tăng ( chính xác 90%, vẫn còn 10% sai).
Cách
này chúng ta cần phải có kĩ năng xác lập và tính các mức Stop loss cũng như các
mứccản cứng, cản hổ trợ. Nhưng nếu bạn nào không biết thì có thể tham khảo các
tư vấn để tìm ra các điểm hổ trợ hay cản hay điểm Stop loss.
Nếu
chúng ta tìm đúng được cản ( và đặt stop loss tại đây) thì khi Vàng break qua
hay chạm Stop loss, Vàng sẽ tăng tiếp hay giảm tiếp 1 đoạn trên $5 nữa.
Lưu ý quan trọng:
- Trong trường hợp sau khi ta Mua hay Bán
lại ( khi chạm Stop loss) mà Vàng cứ sideway quanh điểm ta Mua hay Bán lại suốt
khoảng 3 tiếng đồng hồ thì Ta biết rằng vàng khó break điểm đó ( trong 1 phiên
nhất định, chẳng hạn như Phiên Mỹ, sau 3 tiếng rồi mà không break nổi, hay
Phiên Âu cũng vậy, vì nếu qua 1 phiên khác nó sẽ khác, chỉ tính trong 1 phiên
và không áp dụng cho khoảng thời gian liền kề chuyển tiếp giữa 2 phiên) thì lúc
này Ta nên Bán hya Mua tại điểm sideway đó.
- Một trường hợp nữa là ví dụ khi khi Ta
bán $1,415, dừng lỗ $1,417, Vàng break qua điểm dừng lỗ $1,417. Khi đó ta Mua
lại quanh $1,416 chờ chốt lời và Bán tại $1,420 nhưng Vàng không tăng đến
$1,420 sau khi ta Mua lại $1,416 1 lúc sáu Vàng lại giảm trở lại qua $1,416 ví
dụ như giảm lại $1,412 ( làm ta bị dừng lỗ 2 chiều luôn). Tức làm ta lỗ thêm
khoảng $4 nữa. Thí các bạn yên tâm, hãy bán mạnh theo đà giảm này ( tức nhiên
canh hồi lại 1 chút rồi Bán). Lúc này đà giảm sẽ xuống mạnh hơn, vì Vàng đã
không thể trụ vững trên cản đó ===>
đỉnh
tạm thời trong ngày hôm đó.
Cách
này giúp ta không bị thua lỗ!
BÀI SỐ 4: Vàng có
phải là bong bóng? Nhận định về xu hướng Vàng trong năm 2011.
A. Yếu Tố làm Vàng Tăng?
Trước
Tiên chúng ta cùng tìm hiểu nguyên nhân tại sao Vàng tăng lien tục trong suốt
10 năm nay?
1. Chiến Tranh tại Irac do Mỹ dẫn đầu. Chính
thời điểm này Vàng bắt đầu chu kì tăng.
2. Kinh tế mỹ và 1 số nước lớn rơi về trì trệ,
và dẫn đến kết quả là đồng USD giảm giá
3. Khủng hoảng kinh tế lan ra tại Mỹ
4. Lãi suất được cắt giảm trên toàn cầu, đặc
biệt lãi suất Mỹ gần như bằng 0 => làm cho Tiền giấy mất tác dụng
5. Chính sách tiền tệ của 1 số nước như Mỹ,
Nhật, Châu Âu là tiền giấy in ra nhiều thể hiện qua việc sử dụng các biện pháp
kích thích kinh tế, nới lỏng định lượng của Mỹ, các gói cứu trợ của liên minh
châu âu, và việc bơm thêm tiền của nhiều quốc gia lớn như Trung Quốc, Nhật bản
vào để kích thích kinh tế trong nước.... Khi tiền giấy được in ra quá nhiều,
trong khi lượng vàng khai thác được lại không tăng tương xứng sẽ dẫn tới việc
tăng giá của đồng tiền vàng.
6. Tỷ lệ lạm phát dần hình thành
7. Tâm lý của người dân, các nhà đầu tư, nhằm
chống lại sự mất giá của đồng tiền nội địa, vàng là một tài sản đã liên tục
tăng trong suốt chục năm qua.
8. Khủng hoảng nợ công khu vực Châu Á rồi Châu
Âu.
9. Chính phủ các nước muốn đa dạng hóa kho dự
trữ ngoại tệ của mình nhằm tránh rủi ro khi bị lệ thuộc vào chính sách tiền tệ
của nước khác
10. Nguy cơ chiến tranh ở 1 số nước như Iran,
Triều Tiên và các cuộc xung đột chính trị trên toàn cầu.
Trên
đây là 10 lí do chính để Vàng có sự tăng giá mãnh liệt từ quanh $300 cho đến
trên $1,400. ( Tăng gấp 5 lần)
Vậy câu hỏi được đặt ra là Vàng còn
tăng tiếp? Và tăng đến đâu trong năm 2011?
Taichinhthegioi
xin thưa rằng Vàng sẽ còn tăng tiếp trong năm 2011 khi các yếu tố sau đây vẫn
còn:
1.
Tình hình kinh kế thế giới chưa có triển vọng, đặc biệt là kinh tế Mỹ vẫn còn
xấu với tình hình lao động việc làm không được cải thiện.
2. Chính sách duy trì lãi suất của các nền
kinh tế lớn, đặc biệt là Mỹ cũng như các chính sách tiền tệ như thể hiện qua
việc sử dụng các biện pháp kích thích kinh tế, nới lỏng định lượng của Mỹ, các
gói cứu trợ của liên minh châu âu, và việc bơm thêm tiền của nhiều quốc gia lớn
như Trung Quốc, Nhật bản vào để kích thích kinh tế trong nước vẫn còn tiếp tục.
3. Lạm phát tăng cao
Lời bình:
Như
vậy nếu thế, Vàng sẽ tăng đến đâu trong năm 2011? Taichinhthegioi cho rằng nếu
các yếu tố trên luôn hiện hữu trong năm 2011 thì Vàng sẽ có cơ hội là TĂNG và
mức tăng sẽ là khoảng $1,600 ( khó có thể hơn mức này).
Như
Taichinhthegioi đã có nói rằng Vàng đang là đối trọng rất mạnh đối với USD.
Vàng tăng hay giảm điều có nguyên nhân của nó. Không tự nhiên mà Vàng tăng,
cũng không tự nhiên mà Vàng giảm. Tất cả đều có lí do của nó.
Đó
cũng là lí do mà tại sao 1 số tổ chức Ngân hang trên Thế giới nhận định rằng
Vàng trong năm nay sẽ tăng lên $1,600 hay $1,700. Lí do để họ đưa ra con số này
là vì họ cho rằng có 1 số yếu tố hổ trợ cho Vàng như lãi suất thấp của Mỹ, tình
hình kinh tế Châu Âu và Mỹ vẫn kém trong năm nay…..Họ dự đoán thế là vì họ cho
rằng như vậy. Nhưng song song đó cũng có 1 phe cho rằng trong năm 2011 vàng
giảm về vùng $1,200 chẳng hạn. Vì sao? Vì họ cũng có những lí do riêng như kinh
tế Mỹ và thế giới sẽ tăng trưởng trong năm nay, Lãi suất các nước sẽ tăng và Mỹ
cũng thế…..Nghĩa là họ dự đoán dựa vào các phân tích riêng. Vậy ai đúng? Ai
sai? Taichinhthegioi cho rằng không có ai đúng hay ai sai mà là yếu tố thực tế
sẽ tác động lên giá Vàng. Ví dụ như nếu trong năm 2011, kinh tế Mỹ và thế giới
có tiến triển rõ rệt, FED phát đi tín hiệu Tăng Lãi suất… thì vàng Giảm về
$1,200 hay nếu ngược lại Vàng tăng lên $1,600. Nói chung tất cả phụ thuộc vào
hoàn cảnh hiện tại vào thời điểm đó.
Đó
cũng là lí do tại sao tuần tồi khi Bloomberg khảo sát những chuyên gia dự đoán
giá Vàng sẽ tăng hay giảm trong tuần ngày 03 – 07 tháng 1, đa số 90% cho rằng
Vàng tiếp tục tăng, vì sao họ cho rằng Vàng tăng? Vì họ không kì vọng cho các
tin Mỹ sẽ Tốt, nhưng dự đoán của họ hoàn toàn sai khi Vàng đã giảm rất mạnh
trong tuần này do các tin Mỹ, Âu rất khả quan.
Tại
sao Taichinhthegioi nói rõ phần này? Vì nó rất quan trọng, dự đoán của mọi
người, mọi chuyên gia, tổ chức đều gắn liền với cái yếu tố mà họ kì vọng tác
điộng lên vàng. Vì như Taichinhthegioi có nói rằng: “ Vàng tăng hay giảm đều có
nguyên nhân của nó, không tự nhiên Vàng tăng và cũng không tự nhiên Vàng giảm”
Khi
kinh tế xấu, tiền giấy không còn giá trị thì cho dù Vàng $1,900 hay $2,000 họ
cũng Mua hay ngược lại khi kinh tế phát triển, lãi suất tăng và tiền giấy có
gái trị thì cho dù lúc đó Vàng có $1000 hay $900 họ cũng không Mua. Vì mua để
làm gì?
B. Yếu tố làm Vàng giảm!
Bên
cạnh rất nhiều chuyên gia thề giới cho rằng Vàng sẽ tăng cao trong năm nay, thì
cũng có 1 số chuyên gia cho rằng Vàng khả năng giảm trong năm nay như nhà đầu
tư chứng khoán
nổi
tiếng người Mỹ George Soros đã nhiều lần cảnh báo về bong bóng giá vàng. Ông
nhấn mạnh đến sự lặp lại của mô hình đầu cơ đối với những tài sản như vàng bởi
sau khi đạt đỉnh, giá sẽ đột ngột đi xuống. Và ông này cũng cho rằng vàng đang
sắp ở thời kì bong bong.
Sử
dụng số liệu từ Hội đồng Vàng thế giới và công ty đá quý Kitco, nhà phân tích
Alex Dumortier cho rằng, nếu tính theo những mức giá được điều chỉnh theo lạm
phát trở lại năm 1851, vàng đã tạo ra mức lãi trung bình của vàng trong suốt
154 năm là 0,7%/năm. Ông nhấn mạnh: “Thực tế, trước năm 2005, lãi thực trung
bình của vàng trong suốt 154 năm là 0%”. Ông lập luận rằng, vàng là một tài sản
ít biến động trong dài hạn nên không hợp để tích trữ giá trị. Người đầu cơ vào
vàng có thể đối mặt với nguy cơ mất giá lớn. Giá vàng đảo chiều sẽ gây thiệt
hại nghiêm trọng.
Nhà
phân tích như Dumortier tin rằng giá vàng có thể giảm rất mạnh. Theo tính toán
của ông, giá vàng cần giảm 2/3 giá trị để trở lại mức giá trung bình dài hạn là
456 USD/ounce. Dumortier cho rằng, nếu sự phục hồi kinh tế ổn định và lạm phát
duy trì ở mức thấp, giá vàng có thể giảm đáng kể so với mức hiện nay. Nhưng một
câu hỏi nữa lại được đặt ra là con đường phục hồi kéo dài bao lâu và liệu những
đám mây bao phủ nền kinh tế Mỹ có tan hay không? Theo ông Raghu, bức tranh kinh
tế vĩ mô năm 2011 vẫn chưa rõ ràng nếu Mỹ tăng trưởng dưới mức trung bình hoặc
rơi vào một cuộc suy thoái kép. Khi bất ổn kinh tế tiếp tục, vàng vẫn sẽ được
định giá cao và là nơi đầu tư an toàn.
Nhưng
chuyên gia Dumortier lập luận rằng, mức giá vàng như hiện nay không phải là bến
đỗ an toàn. Hiện nhà đầu tư lớn John Pauson đặt niềm tin vào vàng vì cho rằng
Mỹ sẽ lạm phát 2 con số. Nhưng nếu điều đó không xảy ra, John Pauson sẽ phải
trả một cái giá đắt.
Về
phần mình, chuyên gia chứng khoán Soros lưu ý, trong khi được xem như công cụ
an toàn để tích trữ của cải, vàng lại không phải lựa chọn hiện nay của người
Trung Quốc. Quốc gia này đang tích trữ dầu mỏ.
Theo
phân tích và nhận định riêng của Taichinhthegioi thì Vàng phải giảm trong năm
nay khi Vàng gặp những bất lợi như sau:
1. Tình hình nợ công Châu Âu có lối thoát và
kinh tê Châu Âu ổn định và tăng trưởng. Sự ổn định của đồng euro sẽ khó bền vững
nếu vàng cứ tiếp tục đà tăng. Taichinhthegioi cho rằng với sự nổ lực của công
đồng Châu Âu nhằm cứu nguy đồng Euro cũng như giúp các nước trong kv Châu Âu bị
khủng hoảng nợ công sớm ổn định thì sớm hay muộn gì kv Châu Âu cũng khả quan và
tốt đẹp
2. Kinh tế Mỹ có dấu hiệu phục hồi rõ nét
thong qua các chỉ số kinh tế chính và khi đó chắc chắn tình hình lao động việc
làm của Mỹ sẽ rất tốt đẹp. Một khi kinh tế Mỹ tăng trưởng thì sẽ là lúc lạm
phát phát huy tác động. Và FED sẽ biết cách phải làm gì? Ví dụ như: thu hồi các
chương trình nói lỏng định lượng hay phát đi tín hiệu tăng lãi suất. Lưu ý them
chỉ cần FED phát đi tín hiệu chuẩn bị tăng lãi suất thôi là Vàng chính thức
giảm dần đều. Vậy điều này có khả thi là trong năm nay Kinh tế Mỹ sẽ có triển
vọng? Taichinhthegioi cho rằng hoàn toàn có thể khi Chính phủ Mỹ và Mỹ đã và
đang ra sức và làm tất cả những gì có thể để nhằm giúp nền kinh tế Mỹ tăng
trưởng và đời sống người dân Mỹ tốt hơn như tung ra các chương trình QE1, QE2,
chương trỉnh giảm thuế, giảm lãi suất, hổ trợ….nói chung làm tất
cả
mọi thứ có thể và chúng ta biết rằng nước Mỹ giỏi làm kinh tế thế nào? Cho nên
1 ngày không xa nước Mỹ sẽ tăng trưởng và khi đó FED bắt đầu tăng LSCB.
3.
Trung Quốc và các nước khác bắt đầu quá trình thắt chặt tiền tệ và tăng LSCB
nhằm chống lại lạm phát và tăng trưởng nóng. Chính điều này làm Vàng mất đi tác
dụng đầu tư thay thế.
Tóm lại:
Khi
các nước lớn bắt đầu tăng LSCB và đặc biệt là khi Mỹ chỉ cần phát đi tín hiệu
tăng LSCB thôi là Vàng chính thức mất đi thời hoàng kim. Do đó, trong những
tháng tới đây chúng ta phải theo dõi xem các tin kinh tế Vĩ Mô của Mỹ cũng như
tin lao động việc làm có cải thiện không? Thì từ đó chúng ta suy ra động thái
của FED và xu hướng Vàng. Nếu tình hình ngày càng khả quan với nền kinh tế Mỹ
thì chúng ta sẽ thấy vàng bắt đầu đà giảm. FED chắc chắn phải tăng LSCB chỉ sớm
hay muộn mà thôi.
Vậy nếu Vàng giảm thì vàng sẽ giảm về
bao nhiêu?
Taichinhthegioi
cho rằng nếu vàng giảm do các yếu tố bất lợi trên thì khả năng Vàng sẽ giảm về
tận $1,170 nếu các yếu tố kể trên mà Taichinhthegioi đề cập phát huy tác dụng.
Một khi Vàng break $1,300 là 1 điều chỉ báo rằng Vàng đã chính thức đạt đỉnh và
trong quá trình tìm về giá trị thực của nó ( Tất nhiên phải kèm theo những yếu
tố bất lợi với Vàng mà Taichinhthegioi đã nói). Bất cứ thong tin kinh tế nào
sang sủa, tốt đẹp của Mỹ và Châu Âu sẽ làm ngăn chặn đà tiến của Vàng.
Taichinhthegioi
xin nhắc lại một khi FED phát đi tín hiệu tăng LSCB thì Vàng chính thức mất đi
vai trì phòng thủ trú ẩn và phải Giảm mạnh! ( Thời Hoàng Kim của vàng chính
thức mất đi khi FED tăng LSCB). Thời gian sống “ hung mạnh” của Vàng ngắn hay
dài tùy thuộc hoàn toàn và triển vọng kinh tế Mỹ.
C. Vàng bến đỗ lý tưởng hay bong bóng
sắp vỡ? ( Sưu tầm)
Trong
mấy tháng trở lại đây, vàng đã vài lần cán vạch 1.400 USD/ounce.Vì sao? Vì niềm
tin vào các đồng tiền chủ chốt lại đang lung lay. Trong khi đó, nỗ lực nới lỏng
chính sách tài chính của các nhà cầm quyền Mỹ khiến vấn đề lạm phát và hiện
tượng mất giá của USD càng trở nên đáng ngại. Martin Murenbeeld, một nhà kinh
tế tại DundeeWealth Economics của Canada chỉ ra rằng trong thập kỷ vừa qua, giá
vàng chuyển động song hành với tính thanh khoản quốc tế (cung USD cộng với dự
trữ ngoại tệ của nước ngoài). Cả hai đều tăng gấp 5 lần.
Chính
phủ Mỹ, cũng giống như những người anh em ở châu Âu và Nhật, đã mạo hiểm đưa ra
một số cam kết phúc lợi hào phóng cho cử tri. Do vậy, in thêm tiền sẽ là giải
pháp an toàn được các nhà chính trị ưu tiên thay vì tăng thuế hay cắt giảm ngân
sách. Và cứ thế, giá vàng sẽ chinh phục những đỉnh cao mới.
Một
yếu tố quan trọng khác phải kể tới là nhu cầu vàng của các quốc gia đang tăng
mạnh. Người Trung Quốc và Ấn Độ, với thu nhập tăng chóng mặt, thi nhau đầu tư
vào kim loại,
đặc
biệt là vàng và kim cương. Ngân hàng trung ương của các quốc gia mới nổi đã đa
dạng dự trữ ngoại hối của mình bằng cách mua vào khối lượng vàng lớn.
Vàng
cung cấp cho người ta nơi trú ẩn an toàn trước bão lạm phát. Không chỉ có vậy,
nó còn giúp các nhà đầu tư đa dạng hóa danh mục của mình một cách hiệu quả do
vàng không chuyển động cùng chiều với cổ phiếu và trái phiếu.
Bong bóng sắp vỡ
Sự
lạc quan thái quá của các nhà đầu tư có thể khiến họ phải trả giá đắt. Khi giá
một loại mặt hàng gia tăng, càng nhiều người cảm thấy bị cuốn hút. Và cứ như
thế tới một thời điểm nào đó, người ta sẽ sẵn sàng chấp nhận mức giá được coi
là điên rồ.
Trong
suốt thời kỳ vàng son của cổ phiếu công nghệ thông tin những năm 1990, cổ phần
được giao dịch cao hơn cả mức mà các công ty có thể kiếm được để đảm bảo giá
trị cổ phiếu của mình. Tiếp đó là sự bùng nổ của bong bóng nhà đất khi giá nhà
vượt qua giới hạn của nhu cầu và thị trường tín dụng.
Rất
có thể thị trường vàng sẽ lặp lại vết xe đổ trên. Giới đầu cơ cho rằng vàng sẽ
trở thành một "đồng tiền" chung trên toàn thế giới sau khi đồng đô
trượt dốc và các quốc gia phát triển sa lầy trong đống nợ khổng lồ. Tuy nhiên,
có một thực tế là vàng không phù hợp để đảm đương vai trò của một đồng tiền do
tính biến động của nó.
Giá
vàng có thể giảm thậm chí ngay cả trong giai đoạn lạm phát. Không giống những
kênh đầu tư khác, vàng không mang lại cho chủ sở hữu cổ tức và cũng không được
ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp.
Có
ý kiến cho rằng vàng là tấm lá chắn vững chắc trước biến động kinh tế, chính
trị. Tuy nhiên, người ta vẫn còn rất nhiều lựa chọn an toàn khác, đặc biệt là
khi giá vàng ngấp nghé ngưỡng nguy hiểm.
Trên
đây là toàn cảnh nhận định của Taichinhthegioi về thị trường Vàng TG trong năm
2011.
Vậy thị trường Vàng vc trong nước sẽ
thế nào?
Trước
tiên Taichinhthegioi xin lập lại là Giá Vàng trong nước phụ thuộc hoàn toàn vào
giá Vàng TG và Tỷ Giá USD/VND.
Xét
về yếu tố tỷ giá thì Taichinhthegioi cho rằng trong năm nay nếu tỷ giá USD/VND
có tăng MAX cũng chỉ đạt 22300 VNĐ ăn 1 USD.
Do
đó nếu Vàng TG có tăng lên $1,600 thì Vàng trong nước sẽ có Giá Bán ra cao nhất
là 43 triệu 500 /L( tính theo tỷ giá giả sử đạt cao nhất là 22300)
Và
nếu vàng TG có giảm xuống khảong $1,200 thì Vàng trong nước sẽ có Giá Bán ra
thấp nhất là 32 triệu 500 /L( tính theo tỷ giá giả sử đạt cao nhất là 22300)
Do
đó Taichinhthegioi cho rằng Vàng SJC trong đó sẽ có giá dao động trong vùng 32
triệu đến 43 triệu đồng. Khó có giá nằm ngoài 2 biên này.
Do
đó những bạn nào lỡ Bán Vàng SJC ra với giá từ 33 triệu trở xuống nên xem xét
có vàng giá thấp Mua lại ngay. Về dài hạn nếu Vàng TG giảm mà tỷ gía USD/VND
tăng thì vàng SJC cũng khó giảm theo.
Lưu
ý thêm: Giá Vàng SJC mua Tốt là giá Vàng ngang ngữa hay cao hơn vàng TG khoảng
350
ngàn .
Bài số 5: Những kinh
nghiệm trade Vàng của Taichinhthegioi.
(
Chủ yếu Vàng thường biến động tại Phiên Mỹ và Vàng cũng chịu tác động mạnh nhất
tại Phiên Mỹ, do đó Taichinhthegioi sẽ ưu tiên xét xác tin kinh tế Mỹ cũng như
xu hướng của Phiên Mỹ)
Múi giờ các phiên tương ứng với giờ
Việt nam:
*
Mùa Hè ( tứ thàng 4 đến tháng 11)
- Phiên Á bắt đầu từ 5h sáng
- Phiên Âu bắt đầu từ 14h20 đến 22h20
- Phiên Mỹ bắt đầu từ 19h20 đến 4h sáng hôm
sau * Mùa Đông ( tứ tháng 11 đến tháng 4)
- Phiên Á bắt đầu từ 6h sáng
- Phiên Âu bắt đầu từ 15h20 đến 23h20
- Phiên Mỹ bắt đầu từ 20h20 đến 5h sáng hôm
sau
1. Vàng bị tác động bởi các hot news
và nhất là các hot news hay các tin công bố tại Phiên Mỹ:
-
Khi các tin Mỹ ra Tốt thì Vàng thường Giảm vì thế Ưu tiên các lệnh Bán - Khi
các tin Mỹ ra Xấu thì Vàng thường Tăng vì thế Ưu tiên các lệnh Mua
2. Cách xem xét tin ra xấu tốt và so
sánh qua lại
- Ta xem xét xem tại Phiên Mỹ có bao nhiêu
tin quan trọng nhất? ( Tin quan trọng thường chỉ báo 5 sao hoặc màu đỏ).
- Nếu chỉ có 1 tin quan trọng công bố thì
đơn giản. Ta chỉ xem tin này Tốt hay xấu mà sẽ ưu tiên lệnh Mua hay Bán.
- Nếu có nhiều tin quan trọng ( củng 5 sao
hay cùng màu đỏ) thì ta xem tin nào là quan trọng hơn? Thì chính tin đó sẽ có
giá trị quyết định xu hướng Vàng.
- Hay nếu có gần 2/3 tin quan trọng ra là
Tốt thì ta sẽ ưu tiên lệnh Bán và ngược lại nếu có gần 2/3 tin quan trọng ra
xấu thì ta ưu tiên Mua.
- Còn nếu số lượng tin ra là ½ tin Tốt, ½
Tin xấu thì ta sẽ thực hiện cùng chiến lược có Mua có Bán.
Ví dụ: Tin Mỹ hôm nay có 5 tin quan trọng. Nếu có 3 tin
ra Tốt thì ta Bán. Ngược lại 3 tin ra Xấu thì ta Mua.
Luu ý : Tin Mỹ nào công bố trước thì vẫn Mua hay bán theo
tin Mỹ Mỹ đó là tốt hay xấu. Sau đó, chờ ra hết các tin ta tổng kết lại và ra
chiến lược chính.
Ví dụ : Tin Mỹ hôm nay có 5 tin quan trọng. Lúc 20h30 có 1
tin công bố trước, nếu tin này tốt ta Bán, tin này xấu ta Mua. Sau đó 21h có 2
tin nữa ra Tiếp, lúc này ta xem xét phân tích xem 2 tin này vối tin lúc 20h30
ra thế nào ? Tin xấu nhiều hay tin Tốt nhiều ? Nếu tốt nhiều ta Bán, xấu nhiều
ta Mua. Tương tự cho 2 tin cuối ra lúc 22h.
- Nếu tin Mỹ có các tin sau đây là các tin
có giá trị quan trọng hơn so với các tin quan trọng khác được công bố trong
ngày : Tin Lãi suất Mỹ hoặc tin FOMC meeting,Tin lao động việc làm Mỹ, Tin Nhà
đất, Tin GDP, Tin niềm tin tiêu dùng, Tin Bán lẽ
- Trong ngày thứ 5 hang tuần thường có tin
trợ cấp thất nghiệp công bố do đó nếu có kèm thêm 1 tin Mỹ quan trọng nữa công
bố thì ta sẽ xem xét ưu tiên cho tin Mỹ quan trọng này nếu Tin trợ cấp kì rồi
ra đã Tốt. Còn nếu tin trợ cấp thất nghiệp kì rồi ra xấu mà kì này ra xấu nữa +
kết hợp với tin quan trọng công bố liền kề sau đó ra Xấu nữa thì chỉ có Mua.
Ngược lại, nếu tin trợ cấp thất nghiệp kì rồi ra xấu mà kì này ra xấu nữa + kết
hợp với tin quan trọng công bố liền kề sau đó ra Tốt vẫn ưu tiên Mua, tuy nhiên
lại Mua có phần hạn chế vì Vàng sẽ không tăng mạnh.
- Khi ta xem xét các tin Mỹ công bố ta phải
chú ý đến tin kỳ rồi công bố. Thông thường nếu tin mà công bố như kì vọng trở
lên thì nghĩa là tin tốt. Tuy nhiên, nếu tin công bố mà Tốt hơn kì trước nhưng
gần bằng kì vọng vẫn được cho là tin tốt :
Ví
dụ : Tin GDP kì trước là 2,6%, kì vọng là 3,4%, tin ra là 3,1% thì vẫn là tin
Tốt
Hay tin bảng lương phi nông nghiệp kì
rồi ra là 103K, kì vọng là 133K, nhưng tin ra là 110K thì vẫn là tin Tốt.
Nhưng
nếu tin ra tốt hơn kì trước nhưng kém xa so với kì vọng là tin Xấu.
Ví dụ : Tin bảng lương phi nông nghiệp kì rồi ra là 103K,
kì vọng là 180K, nhưng tin ra là 120K thì là Tin Xấu. Trừ khi tin ra lq 150K thì
mới là Tin tốt ( vì gần so với kì vọng + tốt hơn kì trước)
3. Cách dự đoán xu hướng Vàng vào
Phiên kế tiếp
- Thông thường nếu Vàng Phiên Mỹ là tăng
hay giảm thì Phiên Á, Âu liền sau đó là Tăng hay giảm theo Phiên Mỹ ( áp dụng
cho trường họp tăng hay giảm khoảng $10)
- Nếu gần đến Phiên Âu 30 phút mà xu hướng
Vàng là tăng hay giảm thì khả năng Vàng Phiên Âu sẽ là tăng hay giảm tiếp theo
- Nếu xu hướng Phiên Mỹ là Tăng hay giảm
mạnh trên $20 thì Phiên Á kế tiếp vẫn canh Bán chính nhưng lúc này Vàng sẽ hồi
phục lại đôi chút ( tăng hay giảm lại đôi chút tầm $5) rồi ta bán hay Mua chính
theo xu hướng Phiên Mỹ trước đó.
-
Thông thường ta nhìn vào giá close để cho xu hướng Phiên Mỹ đó là tăng hay giảm
: Ví dụ : Đêm qua Phiên Mỹ closed $1,330. Đêm nay close dưới $1,330 là xu hướng
Giảm, close trên $1,330 là xu hướng tăng.
Nhưng lưu ý trường hợp này cho dù
close trên $1,330 Vàng xu hướng vẫn là Giảm
Ví dụ: Đêm qua Phiên Mỹ closed $1,330, Phiên Á sang nay
Tăng lên $1,342, Phiên Âu tăng tiếp $1,348. Nhưng đến Phiên Mỹ Vàng giảm mạnh
xuống $1,33x và close tại $1,338. Tuy Vàng close ở $1,338 là tăng $8 so với đêm
qua $1,330 nhưng thực tế xu hướng Vàng ở Phiên Mỹ là Giảm từ các mức cao hơn
cho nên Phiên Á sang mai là Giảm!
4. Xem xét dấu hiệu Vàng theo thời gian
trong 1 Phiên và ảnh hưởng của nó đến Phiên kế tiếp
A. Phiên Á:
-
Chú ý 2 mốc thời gian sau đây: 12h nếu giờ Mùa Hè và 13h nếu giờ Mùa đông và
mốc gần 14h nếu giờ Mùa hè và gần 15h nếu giờ Mùa đông. Nếu khi đến 2 mốc thời
điểm đó mà Vàng tăng hay giảm sẽ báo hiệu xu hướng vàng là tăng hay giảm hay
đảo chiều trong Phiên Âu kế tiếp. Đặc biêt khi đến hay đi qua 2 mốc thời điểm
đó mà Vàng vẫn không thể tăng hay giảm tiếp thêm tầm $3 đến $5 so với giá ta
Mua hay bán thì khả năng cao vàng sẽ bị đảo chiều Phiên Âu.
Ví
dụ: ta Mua $1,341. Sau đó Vàng tăng lên $1,345 hay $1,346 nhưng sau 13h ( Mùa
đông) Vàng vận không thể trụ được trên vùng $1,345 mà Giảm lại gần Vùng ta đã
mua, sau đó ta theo dõi tiếp đến gần 15h Vàng vẫn sideway cho đến giảm ta đó là
báo hiệu 1 sự đảo chiều nhẹ hay mạnh tại 1 phiên kế tiếp là Phiên Âu.
B. Phiên Âu.
Cũng
tương tự như Phiên Á nhưng chú ý 2 mốc thời gian sau đây: 17h nếu giờ Mùa Hè và
18h nếu giờ Mùa đông và mốc gần 19h nếu giờ Mùa hè và gần 20h nếu giờ Mùa đông.
Nếu khi đến 2 mốc thời điểm đó mà Vàng tăng hay giảm sẽ báo hiệu xu hướng vàng
là tăng hay giảm hay đảo chiều trong Phiên Mỹ kế tiếp
C. Phiên Mỹ
-
Các bạn chú ý 3 mốc thời gian sau đây: Lúc Phiên Mỹ bắt đầu ( 19h20 ( mùa
hè)hoặc 20h20 ( mùa đông), tùy theo mùa mà sẽ có 1 trong 2 mốc giờ trên) nếu
Vàng giảm 1 lèo trên $10 mà sau (21h30 hay 22h30, tùy theo mùa) Vàng hồi phục
lại gần $10 thì xem xét Mua lại Ngay. Còn nếu Vàng không hồi phục mà tăng giảm
hồi phục nhưng đà tăng yếu hơn đà giảm thì có nghĩa là Vàng sẽ còn giảm tiếp
nữa ===> Canh Bán ngay. Sau 23h30 hay sau 24h30, tùy theo mùa) Vàng sẽ có
thêm 1 đợt tăng giảm cuối cùng trong phiên Mỹ ( trừ những ngày có tin quan
trọng như tin LS FED lúc 1h15 ahy 2h15 thì sẽ khác) và sau đó thì thông thường
vàng sẽ sideway ở giá hiện tại thời điểm đó sau khi đã biến động cuối cùng
trong ngày hoặc nếu không có sự biến động nào xảy ra sau 23h30 hay sau 24h30
thì Vàng sẽ sideway ở gái hiện tại cho đến khi close ===> có thể yên tâm giữ
lệnh hay chốt lời. Tương tự cho trường hợp Vàng tăng. Chú ý: Sau 21h30 hay sau
22h30 xu hướng vàng tăng hay giảm sẽ là xu hướng chính của Vàng cho đến thời
điểm close. Cho nên khi vào đầu phiên Mỹ Vàng có
tăng
hay giảm 1 lèo $10 - $20 cũng không ăn thua, ăn thua là sau 21h30 hay sau 22h30
Vàng có bị đảo chiều không? Nếu không đảo chiều thì ta yên tâm.
-
Chỉ cần chú ý mốc sau 21h30 hay mốc sau 22h30 ( tùy theo mùa), nếu tự nhiên
Vàng đột ngột có tín hiệu tăng hay giảm trên $5 đến $10 ( bất chấp tin ra thế
nào) thì khả năng Vàng sẽ tăng hay giảm đó cho đến khi close và khả năng xuất
hiện 1 hot news nào đó. ( giống như hôm thứ 6 qua ngày 28/1), Vàng đột ngột
tăng mạnh trên $5 sau 22h. Và tăng luôn đến khi close
D. Phiên Á kết hợp Âu ảnh hưởng đến
xu hướng Vàng.
Xin
lưu ý thêm cho Taichinhthegioi 1 trường hợp rất quan trọng là thong thường Vàng
Phiên Á và Âu sẽ đi theo xu hướng chính của Phiên Mỹ là Tăng hay giảm nhưng đột
nhiên Vàng Phiên Á đi ngược lại Phiên Mỹ với sự tăng giảm trên $5 và sau đó
Phiên Âu vào xu hướng tăng giảm đó vẫn được duy trì ( tuy có phục hồi đôi chút)
nhưng vẫn xu hướng là tăng giảm lại trên $5 với cường độ mạnh hơn, thì coi
chừng phiên Mỹ xu hướng tăng hay giảm theo Phiên Á và Âu là 90% ( có khả có 1
hot news nào đó tác động vào)
Ví
dụ: Xu hướng Vàng đêm qua Phiên Mỹ là tăng và close ở $1,337. Đến phiên Á ngày
mai xu hướng tăng lên tiếp $1,345, nhưng đột ngột Vàng có cú giảm lại dưới
$1,340 ( giảm trên $5) và sau đó đến Phiên Âu vẫn có tin hiệu giảm và đà giảm
mạnh thêm thì khả năng vào Phiên Mỹ Vàng sẽ giảm tiếp, cho nên canh vàng hồi mà
bán tại Phiên Mỹ, nếu phiên Mỹ này có tin quan trọng ra Tốt thì đà giảm sẽ mạnh
hơn nữa, còn tin xấu thì đà giảm sẽ hạn chế hơn.
5. Phân tích các hot news.
Khi
các tin Mỹ công bố xấu hay tốt mà đột nhiên có 1 hot news nào đó có tính ảnh
hưởng quan trọng hơn cả tin Mỹ vừa công bố thì Vàng sẽ tạm thời chạy theo hot
news đó.
Làm
saoi nhận biết? Chúng ta tất nhiên không thể biết trước được các hot news khi
nào sẽ xảy ra ( vì đã là hot news thì không ai có khả năng biết trước, vì đó là
tin bất ngờ, mà đã là bất ngờ thì tính ảnh hưởng rất mạnh). Do đó, chúng ta cứ
trade bình thường theo các phân tích tin tốt xấu công bố, nhưng đột nhiên Vàng
biến động thất thường không theo ý mình đã phân tích thì khả năng đã có 1 hot
news nào đó. Ta xem trên kitco.com hay finance.yahoo.com để update xem hot news
gì đã ảnh hưởng đến Vàng? Và tất nhiên ta phải theo xu thế chủ đạo của thị trường,
không thể cãi được.
Và
khi đã là hot news thì yếu tố hot news không bao giờ bền vững, và khả năng tính
ảnh hưởng của hot news sẽ mất đi khi đó Vàng cũng giảm theo hay tăng theo.
6. Ngày thứ 6 của tuần thứ 2 hàng
tuần
Thông
thường trong ngày thứ 6 Vàng thường không giảm nhiều( trứ ngày thứ 6 đầu tiên
của tháng), khả năng tăng lên khá cao nếu trước đó Vàng đã có sự giảm mạnh. Cho
nên ưu tiên lệnh Mua trong ngày thứ 6 tuần thứ 2 trở đi của tháng
7. Xu hướng có cố định?
Vàng
tăng hay giảm ở Phiên Á hay Âu không nói lên được điều gì, Phiên Mỹ sẽ là phiên
cho xu hướng chính. Và thông thường nếu 2 Phiên Á và Âu Vàng tăng lien tục ( mà
không có sự góp mặt của hot news) thì khả năng đảo chiều giảm hay tăng tại
Phiên Mỹ là rất cao.
8.
Trade Vàng trong ngày không có tin Mỹ công bố và trade khi chạm Stop loss
Nếu
trong ngày hôm đó Tin Mỹ không có tin nào quan trọng công bố thì xu hướng Vàng
sẽ bị tác động bởi xu hướng Vàng Phiên Âu + các tin Mỹ công bố những ngày trước
đó.
-
Nếu Vàng sau khi chạm điểm Stop loss chúng ta phải Mua hay Bán lại ngay và
thông thường sau khi chạm điểm Stop loss Vàng sẽ tăng hay giảm tiếp tầm trên $5
( xem lại bài số 3B: Ca1h trade Vàng lạc quan
9. Xem
xét tín hiệu đảo chiều? Xem lại bài số 3
10. Những
yếu tố khác
- Nếu tất cả ai ai cũng nghĩ rằng Vàng tăng
thì chính là lúc ta nên quyết định Bán Vàng và ngược lại.
- Vàng không tự nhiên tăng mà cũng không tự
nhiên giảm, tất cả điều có lí do và yếu tố ảnh hưởng lên xu hướng Vàng. Và
chúng ta phải phân tích tìm hiểu kỉ xem đó là nguyên nhân nào? Nó có bền vững
không? Và nếu nó mất đi Vàng sẽ thề nào?
- Cái gì cũng vậy, trên thế giới này tất cả
đều có tốt có xấu, có giàu có nghèo và có đỉnh có đáy. Chân lý!Khi kinh tế phát
triển hùng mạnh và đi lên đến 1 lúc nào đó ( tức đỉnh) sẽ quay đầu đi xuống.
Giống như khi ta leo lên đến đỉnh núi thì chắc chắn rằng ta phải tìm cách leo
xuống lại hay khi ta ở dưới mặt đất ta chỉ có thể leo lên! Vàng cũng vậy!
Taichinhthegioi luôn tin Vàng cũng có đỉnh có đáy! Bài học thập niên 80 vẫn còn
đó
- Cuối
cùng, cái này hơi mê tín 1 chút nhưng nếu các bạn tin thì làm theo ( không
khuyến khích). Đó là theo tâm linh, thì Taichinhthegioi thường trade ngược theo
kì vọng của KITCO. Xác suất thắng khá cao. Đó là khi Kitco tuyên bố Mua hay Bán
và nói là XU HƯỚNG CHÍNH TRONG NGÀY LÀ TĂNG HAY GIẢM. Thì 90% Vàng sẽ diễn biến
ngược theo kì vọng của Kitco. Taichinhthegioi thống kê đa số Kitco nói Giảm là
vàng tăng và nói tăng là vàng giảm.
Taichinhthegioi
tạm thời post trước 10 kinh nghiệm trade Vàng mà Taichinhthegioi nghiệm ra và
có được trong thời gian qua
Lưu
ý rằng tất cả kinh nghiệm trên đều mang tính chất tương đối (90%), chứ không
mang tính tuyệt đối, cho nên cách để hạn chế rủi ro có thể xảy ra là tuân thể
chặt chẽ Stop loss!
Dưới
đây là Bảng phụ lục về các thông số cơ bản về kinh tế của Mỹ, để các bạn mới
vào trade Vàng nắm rõ. ( Phần này Taichinhthegioi tham khảo và trích từ 1 số
nguồn khác nhau). Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến đồng tiền của một quốc gia,
sự tăng hay giảm tỉ giá đồng tiền phụ thuộc vào các chỉ số kinh tế. Dưới đây là
những thông tin kinh tế đáng chú ý để đánh giá và dự đoán tỉ giá.
VIỆC LÀM
Các báo cáo về tình trạng thất
nghiệp:
Được
công bố hàng tuần, chí số này cho biết có bao nhiêu người đang xin trợ cấp thất
nghiệp lần đầu tiên. Số lượng người càng ít cho dấu hiệu nền kinh tế đang có
dấu hiệu tốt, bởi vì những người thất nghiệp thì thường có xu hướng chi tiêu ít
hơn, điều này có tác động xấu đến nền kinh tế của quốc gia.
Bảng lương phi nông nghiệp:
Được
công bố hàng tháng cho biết số lượng các công việc mới được tạo ra (ngoài lĩnh
vực nông nghiệp). Số lượng công việc càng nhiều thì đồng tiền của quốc gia càng
mạnh, bởi vì càng nhiều người có việc làm thì họ kiếm được nhiều tiền hơn và họ
sẽ chi tiêu nhiều hơn.
TIÊU DÙNG:
Chỉ số tiêu dùng cá nhân:
Cho
thấy mức độ lạm phát mà mọi người phải gánh chịu, nó phản ảnh sự thay đổi trong
giá cả của các mặt hàng tiêu dùng và các dịch vụ (không bao gồm thực phẩm và
năng lượng). Những biến động lớn về giá cả sẽ có tác động xấu lên nền kinh tế
bởi vì nó thể hiện sự không ổn định và sự không ổn định này sẽ khiến cho người
dân chi tiêu ít hơn.
Doanh số bán lẻ:
Được
công bố 1 lần mỗi tháng, nó đo lường giá trị của doanh số bán lẻ. Sự gia tăng
trong doanh số bán lẻ cũng đồng nghĩa là nền kinh tế quốc gia đang phát triển
mạnh hơn, bởi vì nó cho thấy người dân đang chi tiêu nhiều hơn.
Tổng sản phẩm quốc nội GDP:
Được
tổng kết hàng năm, thể hiện giá trị của tất cả các hàng hoá và dịch vụ mà nền
kinh tế của quốc gia sản xuất ra. Sự tăng lên của GDP cho thấy nền kinh tế của
quốc gia đang phát triển mạnh hơn. Nó khuyến khích người dân đầu tư nhiều hơn
vào thị trường cổ phiếu và trái phiếu trong nước đồng thời cũng thu hút các nhà
đầu tư nước ngoài.
Cán cân thương mại:
Thể
hiện sự chênh lệch về giá trị của các hàng hoá dịch vụ xuất khẩu và nhập khẩu.
Sự thặng dư trong cán cân thương mại có nghĩa là giá trị của các hàng hoá dịch
vụ được xuất khẩu đang nhiều hơn nhập khẩu. Sự tăng lên trong cán cân thương
mại cho thấy đồng tiền của quốc gia đang mạnh dần lên bởi vì khi nhu cầu xuất
khẩu nhiều hơn thì số lượng công ăn việc làm sẽ tăng lên và mức độ sản xuất gia
tăng ở các nước xuất khẩu. Điều này cũng sẽ khiến cho các nhà nhập khẩu nước
ngoài sẽ phải đổi đồng tiền của họ sang đồng tiền của nước xuất khẩu để mua
hàng.
Chỉ số giá tiêu dùng CPI:
Chỉ
số CPI đo lường sự gia tăng của giá cả trong một rổ hàng hoá và dịch vụ (như
thực
phẩm,
vận tải, nhà ở, v.v…). Chỉ số CPI này tăng lên nghĩa là giá cả của rổ hàng hoá
dịch vụ đó đã gia tăng và chúng ta phải tốn nhiều tiền hơn để mua một rổ hàng
hoá dịch vụ tương tự. Sự tăng lên của chỉ số CPI sẽ có tác động tích cực lên
nền kinh tế (và đương nhiên là đồng tiền của quốc gia) bởi vì nó cho thấy người
ta có đủ tiền để mua hàng hoá và dịch vụ mặc dù giá của chúng có gia tăng.
BẤT ĐỘNG SẢN:
Doanh số nhà mới:
Các
số liệu về doanh số bán nhà mới là một chỉ số rất quan trọng cho thấy xu hướng
chung của nền kinh tế. Sự tăng lên trong doanh số bán nhà mới cho thấy ngành
xây dựng đang phát triển rất tốt và người tiêu dùng có đủ tiền để mua những tài
sản có giá trị lớn. Những người mua nhà này sẽ mua thêm nhiều hàng hoá khác,
cùng lúc đó thì các công ty xây dựng cũng cần phải thuê công nhân và mua vật
liệu, vì vậy nó tạo nên một tác động, một làn sóng tích cực cho nền kinh tế và
thúc đẩy sự tăng giá của đồng tiền.
Doanh số nhà chờ bán:
Đo
lường hoạt động của doanh số bán nhà hiện tại. Nó bao gồm nhà của các gia đình
riêng lẻ, chung cư. Nhu cầu mua nhà càng tăng chứng tỏ nền kinh tế đang phát
triển tốt bởi vì người dân cảm thấy rất thoải mái và sẵn sàn đầu tư vào nhà ở.
Ngoài ra, việc đầu tư này cũng thường kéo theo các hoạt động mua hàng khác như
các thiết bị điện, tủ bàn ghế … sẽ mang lại thu nhập cho những nhà kinh doanh
bất động sản, tất cả những điều này đều rất tốt cho nền kinh tế.
Chỉ số nhà xây mới:
Cho
biết số lượng các cao ốc đang được xây dựng. Con số này càng cao thì giá trị
của đồng tiền của quốc gia cũng cao bởi vì nó cho thấy ngành xây dựng đang phát
triển tốt và nhiều người đang đầu tư vào lĩnh vực này.
SẢN XUÂT:
Chỉ số sản xuất ISM:
Đo
lường hoạt động thu mua trong khu vực sản xuất. Sự tăng lên của ISM cho thấy
đồng tiền của quốc gia đang mạnh dần lên. Các chỉ số thể hiện hoạt động thu mua
này là những chỉ số tốt bởi vì chúng đánh giá tình hình hoạt động của một công
ty, thường đi đôi với những biểu hiện toàn diện của nền kinh tế.
Sản xuất công nghiệp:
Đo
lường giá trị của sản lượng đầu ra được sản xuất bởi các nhà máy, hầm mỏ. Sự
tăng lên trong sản xuất công nghiệp cho thấy đồng tiền của quốc gia đang mạnh
dần lên bởi vì giá trị của nó càng cao cho thấy số lượng lớn các sản phẩm đang
được sản xuất và bán ra, vì thế người dân có thu nhập và sẵn sàng chi tiêu.
Chỉ số giá của các nhà sản xuất PPI:
Kiểm
tra sự khác biệt trong giá bán hàng hoá và dịch vụ của các nhà sản xuất. Bởi vì
các nhà sản xuất thường có xu hướng tăng giá bán lẻ khi các chi phí sản xuất
gia tăng, PPI có thể
được
xem là một chỉ số biểu hiện sự lạm phát. PPI tăng lên sẽ khiến cho Ngân hàng
Trung Ương cũng tăng lãi suất theo. Sự tụt giảm của PPI cho thấy giá cả đang
giảm xuống và suy thoái kinh tế đang bắt đầu xuất hiện.
Các đơn hàng cho những hàng hoá sử
dụng lâu bền:
Đo
lường giá trị của các loại hàng hoá có vòng đời lâu hơn 3 năm, mà người tiêu
dùng mua - được sản xuất ở thị trường nội địa. Chỉ số này giúp dự đoán xem các
nhà sản xuất đang bận rộn đến mức nào bởi vì họ cần phải làm việc tích cực để
đáp ứng kịp các đơn hàng. Vì thế, xu hướng tăng lên sẽ có tác động tích cực lên
đồng tiền quốc gia.
LÃI SUẤT NGÂN HÀNG:
Công bố của ngân hàng trung ương Anh
(BoE):
Uỷ
ban chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung Ương Anh thường tổ chức bỏ phiếu
biểu quyết hàng tháng để đưa ra mức lãi suất của quốc gia trong ngắn hạn.
Công bố của Ngân hàng Trung Ương Châu
Âu (ECB):
Ban
quản lý của Ngân hàng Trung ương Châu Au thường bỏ phiếu biểu quyết hàng tháng
để đưa ra mức lãi suất của cộng đồng này trong ngắn hạn.
Công
bố của Cục dự trư Liên bang Mỹ (FED):
Uỷ
ban kiểm soát thị trường tự do của Fed thường bỏ phiếu biểu quyết 8 năm một lần.
Kết
quả của các cuộc bỏ phiếu của (BoE; ECB hay FED) sẽ được công bố nhanh chóng.
Nó thường đi kèm với một vài lời bình luận vắn tắt về tình hình kinh tế và các
nhân tố tác động. Mức lãi suất thường được quyết định dựa trên tình hình lạm
phát. Mục đích là để giữ cho giá cả ổn định, vì thế khi lạm phát tăng trên mức
lãi suất của năm 2% thì các ngân hàng này thường cũng tăng lãi suất để kìm giá
xuống. Mức lãi suất cao sẽ thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, làm gia tăng nhu
cầu chuyển đổi ngoại tệ để lấy nội tệ. Có thể nói rằng xu hướng gia tăng của
lãi suất có tác động tích cực lên nền kinh tế của quốc gia.
Biên bản cuộc họp của FOMC
Biên
bản cuộc họp của Uỷ ban kiểm soát thị trường tự do sẽ giúp cho các thành viên
đưa ra các chính sách và quyết định liên quan tới lãi suất.
KHẢO SÁT KINH TẾ:
Cuộc khảo sát của ZEW:
Sẽ
giúp cung cấp các nhận định của các chuyên gia tài chính có đề cập tới xu hướng
kinh tế trong thời gian tới cho cộng đồng chung Châu Âu. Sự khác biệt về số
lượng nhà đầu tư hàng tháng sẽ giúp dự đoán được sự tăng trưởng của nền kinh tế
là tăng hay giảm.
Chỉ số PMI của Chicago (Mỹ):
Thể
hiện tình hình chung của môi trường kinh doanh ở Chicago . Tình hình thu mua hàng tháng sẽ trả
lời cho cuộc khảo sát có liên quan đến hoạt động của tổ chức họ (nó cao hơn,
bằng, hay thấp hơn so với tháng trước) các vấn đề về sản lượng đầu ra, tình
hình thu mua, số lượng việc làm, số lượng hàng tồn kho, các đơn hàng và các chỉ
số giá cả.
Quỹ ngân khố quốc tế TIC:
Theo
dõi dòng chảy của dòng tiền của các quỹ ra và vào lãnh thổ nước Mỹ (trên thị
trường cổ phiếu, trái phiếu). Con số này sẽ được thể hiện theo mức triệu đôla,
thể hiện sự chênh lệch giữa chi tiêu của nước Mỹ vào cổ phiếu của các công ty
nước ngoài và cổ phiếu của các công ty Mỹ. Đây là chỉ số quan trọng của nền
kinh tế Mỹ và giúp họ có cái nhìn thấu đáo về nhu cầu của nước ngoài vào các
lĩnh vực đầu tư và đồng đôla Mỹ. Ví dụ, nếu Mỹ mua 10 tỷ đôla cổ phiếu của các
công ty nước ngoài và các nhà đầu tư nước ngoài mua 30 tỷ đôla chứng khoán của
các công ty Mỹ để đầu tư dài hạn, thì con số chênh lệch sẽ là 20 tỷ đôla.
Niềm tin tiêu dùng:
Đo
lường thái độ của người tiêu dùng đối với các tình hình kinh tế, họ đánh giá
như thế nào vào các triển vọng kinh tế trong tương lai. Con số cao sẽ thể hiện
sự lạc quan của người tiêu dùng; có thể nói là người tiêu dùng đang rất lạc
quan về các triển vọng phát triển kinh tế. Và kết quả là họ sẽ chi tiêu nhiều
hơn, điều này sẽ kích thích lại nền kinh tế.
Mức độ nhạy cảm của người tiêu dùng:
Đo
lường thái độ của người tiêu dùng cả về tình hình hiện tại và các kỳ vọng vào
tương lai. Nó xuất phát từ kết quả của cuộc khảo sát trên 500 người hàng tháng
của trường đại học Michigan .
Mức độ nhạy cảm càng cao sẽ cho thấy mức chi tiêu dùng sẽ gia tăng, nó chiếm
tới 2/3 nền kinh tế.
CHÚ Ý:
Các
thông tin kinh tế được công bố sẽ có ảnh hưởng tới giá thị trường khi có sự
chênh lệch giữa số liệu kỳ vọng và số liệu thực tế được công bố. Có thể xem
lịch thông tin ở địa chỉ
@
http://www.forexfactory.com/calendar.php
Thị
trường có những biến động đều đặn thì sẽ không bị ảnh hưởng nhiều bởi các tin
tức được công bố. Ngược lại, khi thị trường đi ngang, không có nhiều biến động
thì khi tin được công bố sẽ có thể có nhiều biến động lớn.
Hãy
lưu ý rằng thông tin kinh tế được công bố vẫn rất tiềm ẩn sự rủi ro.
Dưới
đây là sự giải thích thêm mà Taichinhthegioi muốn các bạn phải cần hiểu rõ.
Các chỉ số kinh tế cơ bản
Tiền
tệ không tự nhiên trở nên yếu hơn hay mạnh hơn. Phần lớn giá trị tiền tệ được
dựa trên sự bảo mật trong sức mạnh kinh tế của 1 quốc gia. Sức mạnh kinh tế
được thẩm định bằng những chỉ số quan trọng nhất định được theo dõi rất sát
trong giao dịch FX. Khi những chỉ số kinh tế này thay đổi thì giá trị của tiền
tệ sẽ dao động. Tiền tệ là sự ủy quyền cho quốc gia mà nó tượng trưng và tiềm
lực kinh tế của quốc gia đó được định giá thành tiền tệ. Tại sao những sự kiện
kinh tế lại quan trọng đối với những người giao dịch tiền tệ?
Tiền
tệ là sự ủy quyền cho một quốc gia mà nó tượng trưng, tiềm lực kinh tế của đất
nước được định giá sẽ thông qua tiền tệ. Những chỉ số kinh tế là thước đo tiềm
lực của một nền kinh tế. Điều thách thức ở đây là nền kinh tế của đất nước có
theo kịp tiềm lực kinh tế của một đất nước khác nào đó hay không.
Biết
rõ thời gian những chỉ số được chuẩn bị công bố rất quan trọng. Theo dõi trong
tương lai và biết những tin tức nào sẽ được tung ra và được thị trường đánh giá
sẽ giúp người giao dịch dự đoán dược xu hướng thị trường.
Tại sao những chỉ số lại quan trọng
hơn những thứ khác?
Những
điều kiện thị trường hiện tại sẽ ảnh hưởng đến những tin tức nào trên thị
trường cho là quan trọng nhất. Quan trọng là bạn đánh giá được những chỉ số
kinh tế nào đang chiếm giữ sự chú ý nhất trên thị trường. Ví dụ, khi Mỹ đang
gánh chịu 1 số lượng tiền thiếu hụt trong giao dịch, thị trường sẽ tập trung
vào dữ liệu cân bằng thương mại. Tin tức được công bố có thể phân loại khối
lượng lớn và những di chuyển về giá. Tuy nhiên, trong sự bùng nổ kinh tế của Mỹ
với việc làm cao, thị trường sẽ không tập trung vào nạn thất nghiệp.
Những
điều kiện kinh tế có thể thay đổi. Sự thiếu hụt lớn tiền trong giao dịch của Mỹ
có thể làm yếu đồng đô la. Khi đồng đô la bị yếu, thị trường sẽ chuyển sự tập
trung của nó sang sự lạm phát. Những người theo dõi thị trường sẽ chuyển sự tập
trung đến CPI (Chỉ số giá tiêu dùng) và những quyết định về lãi suất của FOMC.
Ý nghĩa của “hiện thực so với dự đoán
của thị trường” là gì?
Bản
thân dữ liệu không quan trọng khi nó giảm hay không nếu không có sự kì vọng của
thị trường. Bí quyết là biết khi nào dữ liệu sẽ được công bố, thêm vào đó những
người dự báo thị trường đang trông mong chỉ số nào.
Một
khi bạn biết được kì vọng của thị trường cho chỉ số kinh tế, hãy để ý nếu ý
kiến số đông (đồng tình) được thỏa mãn. Sự khác nhau mạnh mẽ giữa sự đồng tình
và những kết quả thật sự có thể gây ra sự biến động giá.
Kết
quả của sự gia tăng hằng tháng không mong đợi 0.3% trong chỉ số giá tiêu dùng
(CPI), hiện thực không thật sự quan trọng tới những quyết định giao dịch ngắn
hạn của bạn vì người ta biết rằng thị trường sẽ trông đợi CPI rớt 0.1%, đó là
sự đồng tình.
Hãy
đợi đến sau khi bạn tận dụng được từ dữ liệu những cơ hội giao dịch ngắn hạn,
thông thường là trong vòng 30 phút đầu tiên kể từ khi được công bố, để phân
tích những xu hướng phân nhánh dài hạn của sự gia tăng không mong đợi hằng
tháng trong giá tiêu dùng.
Nhớ
rằng những chờ đợi của thị trường cho tất cả những thông tin kinh kế được công
bố trên lịch kinh tế của chúng ta.
Tại sao những người giao dịch kỹ
thuật lại chú ý đến tác động của tin tức?
Phân
tích kỹ thuật không hoạt động khi những yếu tố thông tin hoặc những dữ liệu
kinh tế trở thành tâm điểm chính của thị trường vì những người tham gia sẽ trở
nên nhạy cảm với bất kỳ sự phát triển nào. Với sự xem xét giá thị trường trên
những kết quả có thể, những tin tức cơ bản được công bố như Bảng lương phi nông
nghiệp Mỹ đã tạo ra những tình huống trên thị trường và không tham gia vào phân
tích kỹ thuật như khối lượng và tính đột ngột. Mặc dù kết quả sẽ lại 1 lần nữa
không tham gia vào, sự xem xét giá thị trường hàng loạt sinh ra sự đảm bảo rằng
các nhà giao dịch đang góp nhặt những giá tốt nhất có sẵn để điền vào những vị
trí của họ hơn là áp dụng moving average hàng ngày của bạn hay oscillator.
Giao dịch sử dụng tin tức: 5 chỉ số
thường được theo dõi nhất.
Tiền
tệ không tự nhiên trở nên yếu hơn hay mạnh hơn. Phần lớn giá trị tiền tệ được
dựa trên sự bảo mật trong sức mạnh kinh tế của 1 quốc gia. Sức mạnh kinh tế
được thẩm định bằng những chỉ số quan trọng nhất định được theo dõi rất sát
trong giao dịch FX. Khi những chỉ số kinh tế này thay đổi thì giá trị của tiền
tệ sẽ dao động. Tiền tệ là sự ủy quyền cho quốc gia mà nó tượng trưng và tiềm
lực kinh tế của quốc gia đó được định giá thành tiền tệ.
Những
thông tin được công bố cơ bản đã trở thành người chuyển dịch thị trường quan
trọng. Khi tập trung vào tác động ảnh hưởng của chỉ số kinh tế có giá trên thị
trường FX, có 5 chỉ số được theo dõi nhiều nhất bởi vì chúng có tiềm năng phát
ra khối lượng và làm thay đổi giá trong thị trường.
Những biên độ giao động trung bình:
Chỉ số
Độ
dịch chuyển trung bình
Bảng
lương phi nông nghiệp
124
Quyết
định về lãi suất của FOMC
74
Cán
cân thương mại
64
CPI
- lạm phát
44
Chỉ
số bán lẻ
44
Tại sao những tin tức kinh tế lại tác
động đến giao dịch ngắn hạn?
Bản
thân dữ liệu không quan trọng khi nó rớt hay không trong sự chờ đợi của thị
trường. Bên cạnh việc biết được khi nào tất cả những dữ liệu được công bố, nó
còn rất quan trọng để biết nền kinh tế nào đang dự báo cho chỉ số nào. Ví dụ,
biết được kết quả kinh tế của sự gia tăng không mong đợi hằng tháng của chỉ số
giá tiêu dùng là 0.3%, hiện thực thì không thật sự cần thiết đến những quyết
định giao dịch ngắn hạn của bạn vì nó biết rằng tháng này thị trường đa số đang
trông đợi CPI giảm 0.1%.
Phân
tích những phân nhánh dài hạn của sự gia tăng không mong đợi hằng tháng về giá
có thể đợi đến sau khi bạn tận dụng được dữ liệu để có những cơ hội giao dịch
ngắn hạn, thường là trong vòng 30 phút đầu tiên. Sự mong chờ thị trường cho tất
cả những tin tức kinh tế được công bố trên lịch kinh tế của chúng ta và bạn có
thể theo dõi những mong đợi này vào ngày công bố của chỉ số.
Bảng lương Non Farm - thất nghiệp
Tỷ
lệ thất nghiệp là thước đo của thị trường lao động. Một trong những cách phân
tích thước đo sức mạnh của 1 nền kinh tế là số việc làm được tạo ra. Chỉ số này
mạnh chỉ ra sự phát triển của nền kinh tế vì những công ty phải tạo ra năng lực
để thỏa mãn nhu cầu.
Lịch công bố: Thứ Sáu đầu tiên của tháng vào lúc 8g30 sáng EST
EUR/USD giảm khi Bảng lương phi nông nghiệp của Mỹ được công bố. Những quyết
định về lãi suất của FOMC:
Thị
trường mở liên bang thành lập ra giảm giá lãi suất mà Cục dự trữ liên bang tính
vào thành viên gởi tiền ở ngân hàng cho những số nợ qua đêm. Lãi suất được
thiêt lập trong suốt những cuộc họp FOMC của những ngân hàng khu vực và Cục dự
trữ liên bang
Lịch
công bố: mỗi năm có 8 cuộc họp. Ngày được biết trước vì thế hãy kiểm tra trên
lịch kinh tế.
EUR/USD giảm sau Quyết định về lãi
suất của FOMC. Cán cân thương mại:
Cán
cân thương mại đo sự khác nhau của giá trị hàng hóa và dịch vụ mà 1 quốc gia
xuất khẩu và giá trị hàng hoá dịch vụ mà nó nhập khẩu. Cán cân thương mại thặng
dư nếu giá trị của hàng xuất khẩu vượt qua hàng nhập khẩu, ngược lại, nếu cán
cân thương mại thâm hụt xảy ra nếu hàng nhập khẩu vượt quá hàng xuất khẩu.
Lịch
công bố: nói chung thường được công bố vào khoảng giữa của tháng thứ 2 theo sau
thời kỳ báo cáo. Bạn nên kiểm tra lịch kinh tế mỗi tháng.
EUR/USD biến động sau khi cán cân
thương mại được công bố. CPI - Chỉ số giá tiêu dùng
CPI
là thước đo chính của nạn lạm phát vì nó đo giá của giá cố định hàng hoá tiêu
dùng. Giá cao hơn được xem là tiêu cực cho 1 nền kinh tế, nhưng vì ngân hàng
trung tâm thường đáp lại sự lạm phát giá bằng cách tăng lãi suất nên thỉnh
thoảng tiền tệ phản ứng lại 1 cách tích cực trong những báo cáo của lạm phát
cao hơn.
Lịch
công bố: hàng tháng - khoảng ngày 13 mỗi tháng vào lúc 8g30 sáng EST EUR/USD
biến động sau khi CPI được công bố.
Chỉ số bán lẻ:
Chỉ
số bán lẻ là thước đo tổng số lượng hàng hoá đã bán bằng cách lấy ví dụ của 1
cửa hàng bán lẻ. Nó được sử dụng như thước đo của hoạt động tiêu dùng và niềm
tin khi những con số bán cao hơn sẽ chỉ ra hoạt động kinh tế tăng.
Lịch
công bố: hàng tháng - khoảng ngày 11 mỗi tháng vào lúc 8g30 sáng EST. EUR/USD
biến động sau khi chỉ số bán lẻ được công bố.
(Maxi-Forex.com)
-----------------------------------------------------------
Ý nghĩa bảng lương phi nông nghiệp
của Mỹ
Đây
là một trong những bản báo cáo được mong đợi nhất của Mỹ, Non-farm payrolls là
một bản báo cáo kịp thời về bức tranh của thị trường việc làm ở Mỹ : gia tăng,
tụt giảm, số giờ làm việc, số lương thưởng ... Những tư liệu trong bản báo cáo
được thu thập từ 2 cuộc khảo sát là Household Surveys và Establishment (
payroll) Survey ( Báo cáo theo hộ gia đình và báo cáo theo bảng lương).
Trong
đó Establishment Survey được ưa chuộng hơn vì bản báo cáo này đánh giá tình
trạng của các doanh nghiệp chứ ko chỉ gói gọn trong các hộ gia đình. Bản báo
cáo có những chỉ số đầy ý nghĩa như : Change in nonfarm payrolls, Unemployment,
Manufacturing Payrolls, và Average Hourly Earnings.
Trong
quá trình khai thác cũng như phân tích về bản báo cáo mình sẽ có cơ hội để mở
ra trước mắt các bạn nhiều hơn nữa những news và yếu tố liên quan đến tình
trạng lao động.
Nonfarm Payrolls ( NFP)
Nonfarm
payrolls (NFP) là một báo cáo về tình hình kinh tế của Mỹ được thông báo hàng
tháng.
Tên
của bản báo cáo được biên soạn để sử dụng cho những công ty về sản xuất, xây
dựng, và các công ty chế tạo sản phẩm. Ban Thống Kê Lao động của bộ Lao động
cho ra những tài liệu sơ bộ của cuộc khảo sát dành cho tháng trước đó. Tin ra
vào thời điểm 8h30 ET thức đầu tiên của hàng tháng, hoặc theo Ban này bản báo
cáo sẽ được đưa ra vào thứ 6 thứ 3 trong tháng sau khi có kết luận về tài liệu
của tuần
Các
con số về NFP được sử dụng để đại diện cho số công việc gia tăng hay mất đi
trong kinh tế trong tháng gần nhất, ko bao gồm những công việc liên quan đến
ngành công nghiệp trồng trọt. Vì ngành này thường có tính chất thuê nhân công
theo mùa mà điều này sẽ làm cho chỉ số xung quanh thời điểm gặt ko còn chính
xác nữa ( vì các nông trang thường tăng thêm số công nhân và sau đó thì chỉ số
vào mùa gặt mới được công bố). Bản báo cáo này cũng cho biết về số giờ làm việc
trung bình hàng tuần và số thu nhập kiếm được bình theo tuần của tất cả những
công nhân thuộc những ngành có trong báo cáo.
NFP bao gồm các thông tin sau :
- Sự thay đổi về chỉ số NFP
- Tỉ lệ thất nghiệp
- Thay đổi về chỉ số Manufacturing Payrolls
: chỉ số Payrolls dành riêng cho các ngành sản xuất.
- Thu nhập trung bình tính theo giờ
- Số giờ làm việc trung bình tính theo
tuần.
Nói
chung báo cáo phản ánh khoảng 80% tổng số công nhân làm việc để tăng sản lượng
GDP của Mỹ và đưowjc sử dụng để hỗ trợ các chính khách và các nhà kinh tế đưa
ra những chính xác mới để quyết định hiện trạng của kinh tế và phỏng đoán tương
lai.
Ý nghĩa của NFP đối với nền kinh tế:
Nói
chung, khi chỉ số lao động gia tăng có nghĩa là các công ty đang phát triển và
cần tuyển dụng nhân lực và điều đó cũng đồng nghĩa với việc nhiều người sẽ có
việc làm và có tiền để chi tiêu vào các sản phẩm hay dịch vụ giúp kích thích
phát triển. Điều ngược lại cũng hoàn toàn đúng trong trường hợp NFP hạ.
Ý nghĩa của Nonfarm với thị trường
tài chính:
Trong
khi tổng số việc làm tăng lên hay giảm đi đối với nền kinh tế là một kim chỉ
nam rất quan trọng cho hiện trạng kinh tế thì báo cáo này lãi có những thông kê
mà hoàn toàn có ảnh hưởng đến thị trường tài chính:
- Chỉ số thất nghiệp đối với kinh tế như
một tỷ lệ của toàn bộ lực lượng lao động. Đây là một phần quan trọng của bản
báo cáo vì số người thất nghiệp là một dấu hiệu của tổng thể kinh tế, và đây là
một con số được ngân hàng Liên Bang theo dõi rất kĩ vì khi chỉ số này hạ xuống
mức qúa thấp ( thường là dứới 5%) thì lạm phát sẽ bắt đầu hình thành vì các
doanh nghiệp sẽ phải trả nhiều tiền hơn để thuê những thợ lành nghề và việc giá
thành sản phẩm gia tăng cũng là điều đương nhiên.
- Chỉ ra bộ phận nào có sự tăng hay giảm về
công việc: Bản baó cáo có thể đưa ra sự cảnh báo cho những trader về mảng kinh
tế nào có thể bung nổ phát triển.
- Thu nhập trung bình hàng giờ : Đây là một
yếu tố quan trọng vì nếu cùng một lượng nhân công như nhau nhưng lại kiếm nhiều
hơn hay ít hơn cho một khối lượng công việc , điều này về căn bản là nói lên
việc cần phải tăng hay giảm nhân công cho khối lượng công việc đó.
- Dùng để xem lại chỉ số của lần ra tin NFP
trước đó: Một yếu tố quan trọng khác của báo cáo là có thể gây ra những biến
động trong thị trường vì traders tự lên khung những chiều hướng phát triển của
news dựa vào chỉ số cũ.
----------------------------------------------------------------------------------------
Doanh số bán lẻ của thị trường Mỹ
Chi
tiêu tiêu dùng chiếm 70% trong tất cả các hoạt động kinh tế của Hoa Kỳ. Doanh
số bán lẻ chiếm 1/3 trong số đó. Nếu người tiêu dùng tiếp tục chi tiêu, đó là
tín hiệu của sự gia tăng toàn bộ trong nền kinh tế. Để theo dõi sự tiêu dùng,
Viện điều ra dân số Hoa Kỳ đề nghị hàng ngàn nhà bán lẻ mỗi tháng cung cấp
doanh số mới nhất của họ. Nhờ vậy mà mỗi tháng chúng ta có được bản báo cáo
doanh số bán lẻ như là một trong những công cụ đo lường tốt nhất sự thay đổi
trong mô hình chi tiêu của ngưởi tiêu dùng.
Nhưng doanh số bán lẻ cũng còn một
vài thiếu sót nhất định.
Nó
chỉ cho biết sức mua hàng hóa hiện tại, chẳng hạn như các mặt hàng có thể tìm
thấy ở : cửa hàng đồ điện, cửa hàng ôtô, trạm gas và nhà hàng. Bản báo cáo
không cho chúng ta biết về việc chi tiêu trong lĩnh vực dịch vụ như : hàng
không, nha khoa, làm tóc, bảo hiểm và điện ảnh. Cho đến bây giờ, ngành kinh
doanh dịch vụ chiếm gần 2/3 chi tiêu cá nhân.
Nó được đo lường như thế nào?
Một
bảng khảo sát được gởi ngẫu nhiên đến 5.000 cửa hàng bán lẻ lớn, nhỏ trên khắp
đất nước. Những cửa hàng nhận được chúng vào khoảng 3 ngày cuối tháng. Sau đó
họ sẽ trả lời,r ồi trả lại trong vòng một tuần. Tuy nhiên, chỉ có ít hơn 50%
cửa hàng được hỏi trả lại đúng hạn. Mặc dù vậy chính phủ vẫn xem lại dữ liệu để
chuẩn bị cho bản báo tạm – một trong ba bản sẽ được công bố trong tháng. Bản
tạm này cung cấp một cái nhìn nhanh và đánh giá về sự thay đổi trong cách chi
của người tiêu dùng sơ lược.
Khoảng
8.000 người bán lẻ khác thì được thăm dò trong nhiều ngày để có được một bức
tranh toàn diện về hoạt động của các chủ hàng. Kết quả của bảng khảo sát sẽ
được điều chỉnh và cho ra bản báo cáo thứ 2. Bốn tuần sau, Bản báo cáo Doanh số
bán lẻ cuối cùng được công bố. Tổng cộng có khoảng 13.000 người được hỏi và có
khoảng 75% trả lời.
Làm thế nào để hiểu được nó?
Có
một sự mạo hiểm khi lệ thuộc quá nhiều vào Bản khảo sát sơ bộ bởi vì chúng dựa
trên một số nhỏ lượng người được khảo sát. Để có được cái nhìn chính xác về
thói quen tiêu dùng cần phải dựa vào doanh số bán ra trung bình trong ba tháng
hoặc xem qua dữ liệu trong ba tháng qua rồi so sánh nó với cùng thời kỳ của năm
trước.
Doanh số bán lẻ trừ ôtô là gì?
Khoảng
25% tổng số lượng tiền chi tiêu của người tiêu dùng là mua các sản phẩm giao
thông và các sản phẩm liên quan. Số liệu này thay đổi rất mạnh từ tháng này
sang tháng khác và nó bóp méo bức tranh doanh số bán lẻ. Để loại trừ nó, có một
hàng riêng trong bản báo cáo, nơi mà chính phủ loại bỏ chi tiêu cho ôtô để mọi
người có thể theo dõi rõ hơn xu thế tiêu dùng.
Nó ảnh hưởng như thế nào đối với đồng
đô?
Thị
trường tiền tệ nhận thấy bản báo cáo Doanh số bán lẻ như là một công cụ đòi hỏi
sự tinh tế để phân tích. Trong khi, những người nước ngoài thì thích thấy được
tinh thần mua sắm của người tiêu dùng Hoa Kỳ vì nó sẽ khẳng định việc sự chắc
chắn của lãi suất (điều mà làm USD tăng giá), một sự chi tiêu quá mức sẽ báo
hiệu sự rắc rối cho USD bởi vì hàng nhập khẩu quá nhiều. Một sự nhảy vọt trong
việc nhập khẩu sẽ làm gia tăng nhu cầu đối với các đồng tiền nước ngoài để chi
trả cho hàng nhập khẩu và điều này có thể làm tổn thương USD.
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------
-------
FED và lãi suất
Cục
dự trữ liên bang Mỹ, gọi tắt là FED, là Ngân hàng trung ương của nước Mỹ. Trong
vai trò của một Ngân hàng trung ương, FED là ngân hàng của các ngân hàng và là
ngân hàng của Chính phủ liên bang.
FED
được xây dựng để đảm bảo duy trì cho nước Mỹ một chính sách tiền tệ linh hoạt
hơn, an toàn hơn, và ổn định hơn. Trong quá trình tồn tại và phát triển cùng
với lịch sử nước Mỹ, FED ngày càng chứng mình được vai trò vô cùng quan trọng
của nó trong hệ thống ngân hàng cũng như trong nền kinh tế Mỹ.
Được
thành lập ngày 23/12/1913 theo đạo luật mang tên "Federal Reserve
Act" do tổng thống Woodrow Wilson kí, FED là một mạng lưới gồm 12 Ngân
hàng dự trữ liên bang và một số chi nhánh khác. Về mặt quản lý, FED chia nước
Mỹ làm 12 khu vực, được gọi là các "Quận" (District), mỗi ngân hàng
Dự trữ liên bang đại diện cho một quận và được đặt tên theo tên thành phố mà nó
đặt trụ sở, đó là Boston, New York, Philadelphia, Cleveland,
Richmond,
Atlanta, Chicago, St. Louis, Minneapolis, Kansas City, Dallas, San Francisco,
trong đó Ngân hàng dự trữ New York có vai trò nổi bật hơn một chút so với các
ngân hàng còn lại.
Lãnh
đạo FED là Ban thống đốc (Board of Governors) gồm có 7 thành viên do Tổng thống
bổ nhiệm và Thượng viện phê chuẩn. 7 thành viên của Ban thống đốc đóng vai trò
như là đa số trong Uỷ ban thị trường mở Hoa Kì (FOMC), là cơ quan quyết định
tất cả các chính sách tiền tệ của Mỹ. 5 thành viên còn lại của FOMC là chủ tịch
của Ngân hàng dự trữ liên bang New York và 4 chủ tịch ngân hàng dự trữ liên
bang khác. Nhiệm kì của mỗi thành viên Ban thống đốc kéo dài 14 năm, và các
thành viên chỉ có thể được tái bổ nhiệm nếu nhiệm kì trước của ông ta không
phải là một nhiệm kì trọn vẹn. Tổng thống tiếp tục bổ nhiệm Chủ tịch và phó Chủ
tịch Ban thống đốc, hai người này giữ chức trong vòng 4 năm và có thể được tái
bổ nhiệm không hạn chế chừng nào họ còn là thành viên của Ban thống đốc. Chủ
tịch của FED hiện nay là Ben Bernanke, người đã thay thế Alan Greenspan vào
ngày 01/01/2006. Alan Greenspan đã từng phục vụ ở cương vị Chủ tịch FED từ năm
1987.
FED có một số nhiệm vụ chính như:
*
Thực
thi những chính sách tiền tệ quốc gia để duy trì mức việc làm, giá cả ổn định
và lãi suất tương đối thấp.
*
Giám
sát và quản lý các thể chế ngân hàng để đảm bảo đó là những nơi an toàn để gửi
tiền và để bảo vệ quyền lợi tín dụng của người dân.
*
Cung
cấp các dịch vụ tài chính cho các tổ chức tín dụng, Chính phủ Mỹ và Ngân hàng
trung ương các nước khác như thanh toán bù trừ, thanh toán điện tử, phát hành
tiền...
*
Ngoài
ra FED còn tiến hành các nghiên cứu về nền kinh tế Mỹ cũng như kinh tế các
bang, cung cấp thông tin về nền kinh tế thông qua các ấn phẩm, hội thảo giáo
dục và qua website.
Với
vai trò là Ngân hàng trung ương của nền kinh tế mạnh nhất thế giới, mỗi quyết
định của FED đều gián tiếp ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế toàn cầu. Người ta hay
nói vui rằng "một cái hắt hơi sổ mũi của chủ tịch FED" cũng đủ làm
chao đảo nền kinh tế thế giới, xét về mặt nào đó cũng không phải là không có
lý. Vậy FED đã tác động đến nền kinh tế toàn cầu như thế nào?
Thứ nhất các quyết định về tăng giảm lãi suất của FED tác
động trực tiếp đến sức mạnh của đồng USD, qua đó ảnh hưởng mạnh đến các đối tác
thương mại của Mỹ. Nếu FED tăng lãi suất đồng USD nhằm kiềm chế lạm phát, vô
hình chung làm tăng sức mạnh của đồng USD trên thị trường tiền tệ quốc tế, làm
tăng nhập khẩu, giảm xuất khẩu, giảm đầu tư vào Mỹ.
Thứ hai, FED còn trực tiếp can thiệp vào việc xác lập giá
trị đồng USD thông qua hoạt động mua bán USD và các ngoại tệ khác. Ví dụ, nếu
Mỹ bán đồng Yen ra đồng thời mua vào USD thì giá trị của USD sẽ tăng, trong khi
giá trị Yen giảm xuống, dẫn đến tỉ giá USD/Yen tăng.
Chính
vì vậy những chuyên tham gia vào thị trường tài chính, tiền tệ quốc tế không
bao giờ bỏ qua những diễn biến của FED.
Lãi suất FED được ấn định như thế
nào?
Cục
dự trữ liên bang thực hiện chính sách tiền tệ chủ yếu bằng cách định hướng
" lãi suất quỷ vốn của FED" Đây là tỷ lệ các ngân hàng ấn định với
nhau cho khoản vay qua đêm các quỹ đặt cọc tại Cục dự trữ liên bang. Tỷ lệ này
do thị trường quyết định chứ Fed không ép buộc. Tuy vậy, Fed sẽ cố gắng tác
động tỷ lệ này ở con số phù hợp với tỷ lệ mong muốn bằng cách bổ su*** hoặc hạn
chế nguồn cung tiền tệ thông qua hoạt động của nó trên thị trường.
Cục
dự trữ liên bang còn ấn định tỷ lệ chiếc khấu ,lãi suất mà các ngân hàng thương
mại phải trả khi vay tiền từ Fed. Tuy nhiên, các ngân hàng thường lựa chọn cách
vay quỹ đặt cọc tại Fed từ một ngân hàng khác mặc dù lãi suất này cao hơn tỷ lệ
chiết khấu của Fed. Lý do của cách lựa chọn này là việc vay tiền từ Fed mang
tính công khai rộng rãi, nó sẽ đưa đến chú ý của công chúng về khả năng thanh
khoản và mức độ tin cậy của ngân hàng đang đi vay.
Cả
hai tỷ lệ trên chi phối lãi xuất ưu đãi và là tỷ lệ thường cao hơn 3% so với
lãi suất quỷ vốn tại FED .Lãi suất ưu đãi là tỷ lệ mà các ngân hàng tính lãi
đối với khoản vay của những khách hàng tin cậy nhất. Ở mức lãi suất thấp, các
hoạt động kinh tế được thúc đẩy vì chi phí đi vay thấp, do đó mà người tiêu
dùng và các doanh nghiệp tăng cường mua bán. Ngược lại, lãi suất cao đưa đến
kìm hãm kinh tế vì chi phí đi vay cao hơn.
Cục
dự trữ liên bang thường điều chỉnh “lãi suất quỹ vốn tại Fed” mỗi lần ở mức
0,25% hoặc 0,5%. Từ năm 2001 đến giữa năm 2003, Fed hạ lãi suất 13 lần, từ
6,25% xuống 1% nhằm chống lại xu hướng suy thoái kinh tế .Tháng 11 năm 2002,
lãi suất do Fed điều chỉnh chỉ còn 1,75% và nhiều mức thấp hơn cả tỷ lệ lạm
phát .
Ngày
25/03/2003 "lãi suất quỷ vốn tại Fed" tụt xuống mức 1%, con số thấp
nhất kể từ tháng 07 năm 1958 – 0,68%. Bắt đầu từ giữa tháng 06/2004, Cục dự trữ
liên bang bắt đầu nâng lãi suất định hướng 17 lần liên tục lên 5,25% ngày
08/08/2006. Sau đó FED hạ dần lãi suất cho đến gần = 0 vào năm 2008 và giữ
nguyên cho đến nay.
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------
---------------
Thị
trường bất động sản và kinh tế Hoa Kỳ
Thị trường bất động sản đã và đang
điều chỉnh nền kinh tế Hoa Kỳ
Sau
khi Fed cắt giảm lãi suất 1% sau vụ tấng công ngày 11/09/2001, việc mượn tiền
thế chấp đã trở nên rẻ hơn để mua nhà. Khi lãi suất vẫn giữ nguyên mức tương
đối thấp qua nhiều năm, một làn sống mua nhà đã trổi dậy kết quả là giá nhà đã
tăng lên “tận trời xanh”.
Các
nhà đầu cơ bất động sản, các nhà đầu tư, những người kinh doanh nhà quy mô nhỏ…
kiếm tiền dễ như trở bàn tay khi mà giá nhà không ngừng tăng. Ngày càng có
nhiều người thấy được công việc kiếm tiền dễ dàng này vì thế họ quyết định tham
gia vào thị trường bất động sản, tạo ra thêm nhiều nhu cầu đối với nhà ở, kết
quả là giá nhà liên tục tăng cao.
Đột
ngột, Ngôi nhà của anh B lúc trước đáng giá $200.000 sau một năm đáng giá
$350.000, bây giờ anh B có thêm $150.000 trong giá trị căn nhà của mình. Nhưng
anh ta không muốn bán căn nhà đó đi vì thế anh đi mượn một khoảng nợ tương
đương với giá trị dư ra của căn nhà. Anh ta sẽ tiêu xài số tiền “tự do” này vào
việc gì. Giờ đây anh ta có thể mua một xe hơi mới, tivi, một chuyến nghĩ mát ở Hawaii …
Đây
là điều thật sự thường xảy ra ở Hoa Kỳ. Người dân Hoa Kỳ đang sử dụng ngôi nhà
của mình như là một máy rút tiền ATM. Người tiêu dùng Hoa Kỳ đã khám phá ra một
nguồn lực mua mới từ việc thế chấp nhà của mình. Họ tiêu xài nhiều hơn số tiền
họ có thể thực sự kiếm. Nhờ vào việc thế chấp căn nhà của mình cho phép họ làm
điều đó.
Thị
trường nhà ở đã và đang trở thành nhân tố chính điều chỉnh nền kinh tế bằng
cách cho phép người tiêu dùng mượn tiền từ việc thế chấp căn nhà của mình để họ
có thể tiếp tục tiêu xài và mua nhiều thứ hơn.
Điều
này chỉ thật sự hữu dụng cho đến khi giá nhà còn tăng. Nếu không có một nguồn
cung tiền từ thị trường nhà, mức chi tiêu của người tiêu dùng có thể chậm lại
một cách đột ngột. Anh B sẽ không thế chấp nhà để mượn tiền nữa và sẽ phải
ngừng việc chi tiêu.
Số
lượng tiền rút ra từ tài sản thế chấp (MEW) đã trở thành một yếu tố đáng kể
trong GDP. MEW diễn tả số lượng tiền mượn từ chủ nhà so với gái trị căn nhà của
họ để làm công tác tài chính cho tiêu dùng của mình.
Người
chủ nhà xem MEW giống như bữa ăn trưa miễn phí. Gia nhà tăng một cách kỳ diệu,
sản sinh ra một số lượng tiền không thấy rõ có thể chuyển thành tiền mặt. Nó
thật sự là không miễn phí vì người chủ nhà phải trả lãi cho khoản nợ
Dưới
đây là một vài thông tin làm nhiều người ngạc nhiên:.
• Theo một nguyên cứu của Nguyên chủ tịch
cục dự trữ liên bang Hoa Kỳ - Alan Greenspan ước lượng có hơn 600 tỷ USD tiền
mặt rút ra trong năm 2004.
• Goldman Sachs ước lượng trong năm 2005,
những người sở hữu nhà đã rút ra 834 tỷ USD.
Ước
lượng có khoảng từ 50% đến 68% số tiền này đã được người tiêu dùng tiêu xài tùy
ý.
Nếu
chúng ta tính những con số này trong vòng hai năm qua số tiền này đã vượt hơn
1000 tỷ USD đã được người tiêu dùng tiêu xài.
Hãy
thử tưởng tượng thử xem điều gì sẽ xảy ra một khi người tiêu dùng không thế
chấp nhà để mượn tiền
Một
vần đề khác mà anh B cần phải bắt đầu nghĩ đến đó là bên cạnh việc chi tiêu số
tiền ngoài nguồn thu thực sự đó là tiền lãi anh ta phảt trả cho món nợ mà anh
ta mượn. Kể từ khi Fed tăng lãi suất và có thể tiếp tục tăng lãi suất trong
tương lai, số tiền lãi anh ta phải trả sẽ tăng.
Điều
này có nghĩa là nguồn thu của anh ta sẽ phải dùng cho việc trả lãi nhiều hơn là
việc chi tiêu vào những thứ khác. Và nên nhớ rằng khi người tiêu dùng chi tiêu
đó là nhân tố lèo lái
nền
kinh tế.
------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Chỉ số giá sản xuất (PPI) đo lường
mức độ lạm phát
PPI là gì? Nó đo lường cái gì?
Chỉ
số giá sản xuất (PPI) đo lường mức độ lạm phát trải qua bởi các nhà sản xuất.
Số liệu này mô tả mức độ thay đổi giá cả trung bình trong rổ hàng hóa cố định
được mua bởi nhà sản xuất. Một cách tổng thể, lạm phát cao dẫn đến lãi suất
cao, điều này sẽ có xu hướng làm mạnh đồng tiền của quốc gia.
Nó
nghe có vẻ giống CPI, vậy đâu là sự khác biệt?
PPI
là một chỉ số của giá thương phẩm. Ngược lại, CPI đo lường cả giá của thương
phẩm và dịch vụ - nhà, giao thông, y tế và những dịch vụ khác chiếm 50% của
CPI. CPI cũng bao gồm hàng hóa nhập khẩu trong khi PPI thì không.
Một
sự khác biệt giữa PPI và CPI là PPI đo lường giá trị của đồng vốn dành cho
trang thiết bị trong kinh doanh.
“Rổ hàng hóa ” bao gồm những gì?
Các
hàng hóa liên qua đến tiều dùng chiếm 75% biểu đồ tròn. Hàng hóa tiêu dùng, chủ
yếu là xe hơi chiếm 40%. Thực phẩm chiếm 26% gồm : thịt, cá, sản phẩm liên quan
đến bơ sữa, trái cây và rau quả. Danh mục năng lượng, chủ yếu là gas và dầu
nhiên liệu chiếm thêm 9%. Danh mục trang thiết bị chiếm 25% gồm: ôtô và xe tải.
Các
số liệu được đặt với nhau như thế nào ?
Các
nhà kinh tế Bộ Lao động so sánh giá của nhiều món hàng – khoảng 3.450. Giá thì
được lấy mẫu hàng tháng.
PPI
lõi là gì?
Nhiều
nhà kinh tế xem xét PPI trừ đi thực phẩm và năng lượng cái mà được gọi là PPI
lõi.Vậy tại sao? Bởi vì giá thực phẩm và năng lượng thay đổi rất nhanh. Giá
năng lượng có thể bị ảnh hưởng bởi thời tiết chẳn hạn như nếu bão gây ảnh hưởng
đến các dàn khoan dầu thì sẽ anh hưởng đến sản lượng khai thác. Điều tương tự
cũng có thể xảy ra đối với thực phẩm. Đó là lý do tại sao phải loại trừ chúng
để thấy được xu thế lạm phát thật của PPI.
Các
“nhà chuyên nghiệp” xem xét PPI như thế nào ?
Các
“nhà chuyên nghiệp” xem xét PPI một cách chung chung và xem xét nhiều phương
pháp:
•
So sánh tháng gần đây nhất với hai đến ba tháng trước
• Xem xét sự thay đổi trung bình của chỉ số
PPI được công bố trong sáu hoặc mười hai tháng trước.
• Xác định tỉ lệ lạm phát giữa các năm.
Điểm
chính ở đây là không nên để ý quá nhiều vào bản báo cáo đơn độc. Tốt hơn là hãy
xác định xu thế và liệu có một xu thế mới sắp xuất hiện không.
PPI ảnh hưởng như thế nào đối với
USD?
Đồng
đô có xu hướng mạnh lên khi tăng lãi suất ngắn hạn. Vì thế nếu Fed tăng lãi suất,
thì USD tăng giá.
Nếu
lạm phát cao, USD thường sẽ tăng vì điều này cho thấy Fed có lý do để tăng lãi
suất.
--------------------------------------------------------------------------------------
Chỉ số giá tiêu dùng CPI
Chỉ số giá tiêu dùng CPI là gì? Nó đo
lường cái gì?
CPI
là một công cụ đo lường sự thay đổi giá do người dùng chi trả theo thời gian
cho các hàng hóa trong rổ hàng hóa và dịch vụ.
Rổ hàng hóa và dịch vụ bao gồm những
gì?
Hàng
hóa và dịch vụ bao gồm: thực phẩm, quần áo, chỗ ở, báo chí và các loại đĩa CD.
Các mòn hàng mà người tiêu dùng thường chi tiêu nhiều như : thực phẩm, thì
chiếm tỉ trọng lớn, quan trọng, trong việc tính toán chỉ số hơn là cách sản
phẩm khác như: kem đánh răng, vé xem phim là những sản phẩm mà người tiêu dùng
ít chi tiêu hơn.
Các khoản đầu tư thì sao?
CPI
không bao gồm các đồi tượng đầu tư như: cổ phiếu, trái phiếu, bầt động sản, bào
hiểm nhân thọ. Những đối tượng này liên quan đến tiết kiệm chứ không phải là sự
chi tiêu hằng ngày.
Tại sao nó quan trọng để đo lường nền
kinh tế?
CPI
đo lường sức mua của người tiêu dùng xài đồng đô.
Mối
liên hệ giữa CPI và lạm phát là gì?
CPI
đo lường lạm phát được trải qua bởi người tiêu dùng trong việc chi tiêu hằng
ngày của họ.
Sự
gia tăng trong chỉ số CPI sẽ được nhiều người nghĩ rằng như là “tỉ lệ lạm
phát”. Nó được sự dụng bởi các thương nhân bán lẻ để dự đoán giá trong tương
lai, bời các ông chủ để tính tiền lương và bởi chính phủ để xác định mức tăng
cho quỹ bảo trợ xã hội.
CPI được thu thập và xem xét như thế
nào?
Mỗi
tháng, các nhà thu thập dữ liệu từ cục thống kê của bộ Lao động ra lệnh cho các
trợ lý kinh tế ghế thăm hoặc kêu gọi hàng ngàn cửa hàng bán lẻ, cơ sở dịch vụ,
các tổ chức cho thuê, phòng mạch,và toàn bộ Hoa Kỳ để thu thập thông tin giá cả
của hàng ngàn đối tượng được sử dụng để theo dõi và đo lường sự thay đổi trong
chỉ số CPI. Các trợ lý sẽ lưu lại giá của khoảng 80.000 đối tượng mỗi tháng.
Tám mươi ngàn đối tượng giá này diễn tả các mẫu được chọn có tính khoa học được
mua bởi người tiêu dùng cho hàng hóa và dịch vụ được mua.
Trong
suốt mỗi cuộc gọi hay chuyến ghé thăm, các trợ lý kinh tế thu thập giá của một
hàng hóa hoặc dịch vụ nhất định, cái mà đã được xác định chính xác từ lần
trước. Nếu đối tượng được chọn sẵn sàng, thì giá sẽ được lưu lại. Nếu đối tượng
được chọn không sẵn sàng hoặc có sự thay đổi về số lượng hoặc chất lượnag (ví
dụ như: trứng được bán trong một gói 8 trứng khi lần trước đã được bán là 12)
của hàng hóa hoặc dịch vụ kể từ lần thu thập lần trước, các nhà trợ lý kinh tế
chọn một đối tượng mới hoặc ghi lại sự thay đổi của đối tượng hiện tại.
Các
số liệu thu thập được sẽ được gởi tới văn phòng quốc gia của Cục thống kê bộ
Lao động, các chuyên gia thương phẩm sẽ xem xét chi tiết các thông tin về giá
của hàng hóa và dịch vụ Các nhà phân tích sẽ kiểm tra tính chính xác và nhất
quán của dữ liệu, và tạo ra những sự điều chỉnh cần thiết.
CPI ảnh hưởng như thế nào đối với
đồng tiền của quốc gia?
Dầu
hiệu của lạm phát có nghĩa là NHTW sẽ phải tăng lãi suất. Đa số dùng công cụ đo
lạm phát là chỉ số CPI. Nếu CPI tăng, thì nó sẽ cho các NHTW như Fed các dự
liệu hỗ cho việc tăng lãi suất. Lãi suất tăng thì đồng tiền của quốc gia tăng.
Tổng
hợp&biên dịch: Trường Giang
Nguồn:
babypips.com
CPI
là tên viết tắt tiếng Anh của Chỉ số giá tiêu dùng. Trong rất nhiều trường hợp
các quốc gia còn dùng CPI như đại diện cho thông số về lạm phát, mặc dù không
phải bao giờ cũng đúng, hoặc chỉ phản ánh tương đối. Chúng ta xem xét ý nghĩa
của CPI trong bài viết này, bổ su*** cho khái niệm CPI đã có trong phần Tra cứu
của Saga. Phần nhiều thông tin và kiến thức ở đây được sử dụng với căn cứ tính
toán cho nền kinh tế Mỹ và Anh, do đó khi sử dụng cho Việt Nam thì cần những
hiệu chỉnh nhất định để phù hợp thực tế.
Giá
cả của hàng hoá dịch vụ luôn luôn biến động theo thời gian, tuy nhiên nếu như
giá cả thay đổi quá nhanh chóng, nó có thể là một cú sốc đối với nền kinh tế.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là một chỉ số cơ bản đo lường giá cả hàng hoá dịch
vụ và cho biết liệu nền kinh tế có bị lạm phát hoặc giảmphát hay không. Chỉ số
giả cả thường rất được quan tâm theo dõi và nó đóng một vai trò quan trọng
trong việc đưa ra các quyết định tài chính quan trọng như chính sách lãi suất
của cục dự trữ liên bang Mỹ hay quyết định tiến hành hedging của các ngân hàng
và doanh nghiệp lớn. Cũng rất có lợi cho các nhàđầu tưcá nhân tiến nếu họ tính
đến chỉ số CPI khi tiến hành hedging hoặc đưa ra quyết định phân bổ vốn đầu tư.
CPI
được hình thành từ các thông tin chi tiêu của hang nghìn hộ gia đình trên toàn
quốc.
Thông
tin được thu thập thông qua phỏng vấn và nhật kí chi tiêu của các đối tượng lựa
chọn để nghiên cứu. Rổ hànghoá dịch vụ được sử dụng để tính bao gồm hơn 200
danh mục, thuộc 8 nhóm: thực phẩm và đồuống, nhà đất, may mặc, vận tải, chăm
sóc sức khoẻ, giải trí, giáo dục và truyền thông,và một số loại hàng hoá dịch
vụ khác. Giá cả của khoảng 800.000 hàng hoá dịch vụ trong rổ tính được thu thập
hàng tháng từ hàng ngàn các cửa hàng bán lẻ, các nhà cung cấp dịch vụ, các công
ty cho thuê nhà đất và các phòng khám sức khoẻ.
Vậy chỉ số CPI mách bảo điều gì?
Các
số liệu trên sẽ hình thành lên một bức tranh về sự biến động của chi phí sinh
hoạt từ đó giúp các chuyên gia tài chính nhận định được khả năng lạm phát
cónguy cơlàm suy sup cả một nền kinh tế nếu ở lạm phát ở mức độ quá cao. cả lạm
phát và giảm phát quá mức đều rất đáng sợ mặc dù giảm phát quá mức ít khi xảy
ra hơn.
Chúng
ta thường nhìn nhận giảm phát và giảm giá là những dấu hiệu tốt. Và thực tế
điều này có thể là tốt trong một chừng mực nào đó. Ví dụ giá của dịchvụđiện
thoại đã liên tục giảm xuống trong nhiều năm qua và chắc chắn sẽ còn tiếp tục
giảm nữa vì internet ngày càng chiếm ưu thế. Và chắc chắn bạn chẳng bao giờ
nghe thấy người tiêu dùng nào phàn nàn về điều này. Tuy nhiên giảm phát chắc
chắn cũng là một hiện tượng không tốt đối với nền kinh tế. Bằng chứng là cuộc
đại suy thoái diễn ra vào những năm 30 khi mà có cả núi người thất nghiệp không
có nổi một đồng để mua hàng hoá và dịch vụ cho dù chúng được chào bán với mức
giá cực kì hấp dẫn.
Khi
giá cả tăng tới mức không thể kiểm soát nổi thì lạm phát trở thành siêu lam
phát. điển hình là ở Đức vào những năm 20, lạm phát của Đức trong thời gian này
đã có lúc đạt mức 3.25 triệu phần trăm một tháng. Trong suốt chiến tranh thế
giới thứ II, Hy Lạp có mức lạm phát 8.55 tỉ phần trăm một tháng, Hungary thì
thậm chí còn kinh khủng hơn. Hungary
đã cho phát hành giấy bạc mệnh giá 100 triệu Pengo vào năm 1946 nhưng vào thời
điểm này tờ giấy bạc này chả có nghĩa gì do đó chính phủ buộc phải định giá lại
đồng tiền của nước mình. Giấy bạc 1triệu pengo giờ đây cũng chỉ có giá tương
đương với 1 pengo trước kia, và nghiễm nhiên nó trở thành đơn vị tiền tệ thấp
nhất. Đưa ra ví dụ này để thấy được cho dù chỉ số CPI có biến động theo chiều
nào thì nó vẫn khiến cho nhiều người phải lo sợ.
Có
một số hình thức biến động giá cả trong nền kinh tế, như làm giảmphát hoặc
thiểu phát(disinflation) hoặc làm tăng lạm phát (reflation).Làm giảm lạm phát
là việc làm cho lạm phát chững lại, nhưng vẫn đang trong tình trạng lạm phát.
Khi lạm phát xảy ra đối với một nền kinh tế không tăng trưởng, ta gọi đó là lạm
phát đình đốn, khiến cho lạm phát càng trở nên nghiêm trọng.
Một số ứng dụng của CPI
CPI
thường được sử dụng để điều chỉnh thu nhập của người dân và các hoạt động kinh
tế khác.Cụcan ninh xã hội Mỹ thường xem xét CPIđểđưa ra mức thu nhập phù hợp
cho người dân, cấu trúc thuế của cục dự trữ liên bang cũng dựa trên CPI để điều
chỉnh mức thuế cho phù hợp,vàcácông chủthì sử dụng CPI để điều chỉnh lương nhân
viên cho phù hợp với chi phí sinh hoạt. các thông tin về hoạt động bán lẻ, thu
nhập theo giờ và theo tuần, tổng thu nhập và tổng sản phẩm quốc dân được gắn
kết với CPI để lý giải các chỉ số có liên quan
trong
thời kì không cóảnh hưởng củalạm phát.
CPI và thị trường
Thay
đổi của giá cả của hàng hoá dịch vụ trên thị trường ảnh hưởng trực tiếp đến các
chứng khoán có lãi suất cố định. Nếu giá cả tăng, các khoản lãi cố định sẽ có
giá trị thực tế thấp hơn và do đó làm giảm mức sinh lợi của các chứng khoán.
Lạm phát cũng sẽ gây ảnh hưởng đến các khoản tiền lương, trợ cấp, hưu trí vì
chúng là các khoản tiền trả cố định. Những người hưởng lương hưu sẽ phải nhìn
đồng tiền của họ "biến mất" dần dần vì giảm sức mua theo thời gian.
Biến
động giá cả có thể ảnh hưởng xấu đến các công ty. Người ta thường kì vọng mức
độ lạm phát nhẹ trong nền kinh tế đang tăng trưởng, tuy nhiên nếu giá cả của
các yếu tố đầu vào tăng quá nhanh các nhà sản xuất sẽ bị giảm lợi nhuận. Mặt
khác giảm phát chắc chắn sẽ dẫn tới giảm mức cầu của người tiêu dùng. Trong
trường hợp này các nhà sản xuất buộc phải giảm giá để bán được hàng, tuy nhiên
giá cả các yếu tố đầu vào có thể không giảm một lượng tương ứng. Vì thế biên
lợi nhuận của nhà sản xuất cũng sẽ bị ảnh hưởng.
Tự bảo vệ mình trước tác động của lạm
phát.
Tuy
nhiên do thị trường ngày càng được hoàn thiện hơn nên các sản phẩm đầu tư có
thể giúp ta đối phó với ảnh hưởng của lạm phát. Các quỹ tương hỗ hoặc các ngân
hàng có thể mua các chứng khoán ngăn ngừa lạm phát, còn được gọi là TIPS
(inflation-protected securities). Ngoài ra còn có thể sử dụng các hợp đồng
tương lai để ngăn ngừa rủi ro. Tương tự nhiều người nắm giữ trong tay những cổ
phiếu mà các cổ phiếu này lại trở thành một công cụ hết sức hữu hiệu chống lại
lam phát. Đầu tư của các cá nhân trong nhiều trường hợp không chỉ bù đắp được thiệt
hại do lạm phát gây ra mà cònđem lại một khoản lãi cho người nắm giữ.
CPI
có lẽ là chỉ số quan trọng nhất và được quan tâm chú ý nhất. Nó cũng là chỉ số
đo lường sự thay đổi trong chi phí sinh hoạt được biết đến nhiều nhất. CPI được
sử dụng để điều chỉnh tiền lương, phúc lợi xã hội, lương hưu, thuế và các chỉ
số kinh tế khác nữa. Nó cũng cung cấp cho các nhà đầu tư các thông tin về những
biến động có thể xảy ra trên thị trường tài chính_nơi mà cổ phiếu có mối quan
hệ cả trực tiếp và gián tiếp đối với CPI. Nắm chắc chỉ số giá cả trong tay, các
nhà đầu tư có thể đưa ra các quyết định đầu tư phù hợp và bảo vệ mình bằng cách
mua các công cụ đầu tư như TIPS.
Một
trong những tác giả được biết nhiều tới các nghiên cứu lạm phát thành công và
sâu sắc là Giáo sư Paul Samuelson. Khi nghiên cứu về thông tin lạm phát, nhà
vật lý học vĩ đại Stephen Hawkin có trầm ngâm cho rằng hiện tượng lạm phát phức
tạp và có thể xem như một hiện tượng vật lý thì đúng hơn là khoa học xã
hội-nhân văn... Còn nói chung thì chúng ta với tư cách là người tiêu dùng luôn
lo ngại lạm phát cao dẫn tới mất giá đồng tiền, do sụt giảm sức mua.
----------------------------------------------------------------------------------------------------
Bảng
khảo sát thái độ của người tiêu dùng Niềm tin tiêu dùng là Bảng khảo sát thái
độ của người tiêu dùng về cả điều kiện hiện tại cũng như sự kỳ vọng về các điều
kiện kinh tế, được chỉ đạo bời Ủy ban hội nghị. Năm ngàn người tiêu dùng khắp
đất nước sẽ được điều tra mỗi tháng. Mức độ niềm tin của người tiêu dùng liên
quan trực tiếp tới mức độ chi tiêu của họ.
Niềm
tin tiêu dùng và ý kiến của người tiêu dùng chỉ là hai cách để nói về thái độ
của người tiêu dùng. Trong số các bản báo cáo kinh tế, Ý kiến người tiêu thì
được khảo sát bởi ĐH Michigan
trong khi Niềm tin tiêu dùng thì được khảo sát bởi Ủy ban hội nghị.
Sự
chi tiêu của người tiêu dùng chiếm 2/3 nền kinh tế, vì vậy thị trường luôn khát
khao muốn biết người tiêu dùng đang quan tâm vào cái gì và họ sẽ ăn, ở như thế
nào trong tương lai gần.
Sự
tin tưởng của người tiêu dùng vào nền kinh tế và khả năng tài chính của mình
càng nhiều thì nhiều khả năng họ sẽ chi tiêu nhiều hơn.
Với
ý nghĩ như vậy, thật dễ dàng để thấy chỉ số về thái độ của người tiêu dùng ảnh
hưởng trực tiếp như thế nào vào xu thế của nền kinh tế. Hãy nhớ rằng sự thay
đổi của Niềm tin tiêu dùng và doanh số bán lẻ không di chuyển nối tiếp nhau qua
từng tháng.
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Bản
khảo sát chỉ số sản xuất ISM Bản khảo sát chỉ số sản xuất ISM dựa trên những
lời bình luận của những nhà quản lý thu mua trong lĩnh vực sản xuất.
Nó
là mẫu tin tức đầu tiên của nền kinh tế được công bố mỗi tháng và nó cung cấp
những bằng chứng sớm nhất cho thấy nền kinh tế đã biểu hiện như thế nào trong 4
tuần trước.
Tại sao nó được xem xét?
Những
người chi trả cho những thứ mua trong công ty của họ được gọi là Người quản lý
thu mua. Các công ty sản xuất cần nguồn cung cấp để tạo ra sản phẩm. Các mẫu
sản phẩm họ có thể đặt hàng bao gồm: cáp, hộp đóng hàng, và máy vi tính. Nếu có
một sự gia tăng trong nhu cầu của các sản phẩm, Người quản lý thu mua sẽ phản
ứng lại bằng cách gia tăng đơn hàng nguyên liệu sản xuất và những nguồn khác.
Nếu doanh số của công việc sản xuất giảm, điều này sẽ liên kết với việc những
ngưởi mua sẽ cắt giảm đơn hàng công nghiệp trở lại.
Do
vị trí của họ, bạn có thể có được những thông tin rất đáng tin cậy về các hoạt
động sản xuất bằng cách theo dõi điều mà những người quản lý thu mua đang làm. Đây
là điều quan trọng vì các hàng hóa sản xuất chiếm khoảng một nữa nền kinh tế.
Nó được tính như thế nào?
Hằng
tháng, ISM gửi qua bưu điện bảng câu hỏi đến khoảng 400 công ty thành viên khắp
Hoa Kỳ, trải đều ra 20 lĩnh vực công nghiệp khác nhau. Những người quản lý thu
mua của các công ty được hỏi để xác định xem liệu các hoạt động sản xuất đang
tăng, giảm, hoặc không thay đổi trong các nhóm sau:
1. Đơn hàng mới: Các đơn hàng mới mua bởi các
đại lý.
2. Sản lượng: Số lượng hàng hóa được sản xuất.
3. Việc làm: tình trạng thuê nhân công trong
công ty.
4. Nguồn cung: Tốc độ cung cấp hàng của nhà
cung cấp.
5. Dự trữ: Tỉ lệ thanh toán hàng dự trữ của
nhà sản xuất.
6. Dự trữ của khách hàng: Các đại lý phỏng
đoán mức độ dự trữ của khách hàng của họ.
7. Giá hàng hóa: Giá nhà sản xuẩt trả cho nhà
cung cấp.
8. Đơn hàng tồn đọng: Các đơn hàng chưa được
thực hiện.
9. Đơn hàng xuất khẩu mới: Tỷ lệ đơn hàng mới
từ các quốc gia khác.
10. Nhập khẩu: Các nguyên liệu mà các đại lý mua
từ các quốc gia khác.
Chỉ
số ISM tự bản thân nó được sưu tập dựa trên các câu trả lời cho 5 câu hỏi đầu
tiên của bảng câu hỏi. Chúng lần lượt chiếm tỉ trọng như sau: đơn hàng (30%),
sản lượng sản xuất (25%), việc làm (20%), nguồn cung (15%), và dự trữ (10%).
Năm câu hỏi cuối thì cung cấp thêm các tin tức cho thấy các hoạt động sản xuất
đang được tiến hành như thế nào.
Đọc bản số liệu này như thế nào?
Trên
50: Cả hai các hoạt độg sản xuất và nền kinh tế đang mở rộng.
Dưới
50 nhưng trên 43: Các hoạt động sản xuất đang co lại, Manufacturing activity is
contracting, lúc này toàn bộ nền kinh tế vẫn tăng trưởng.
Dưới
43: Cả hai các hoạt độg sản xuất và nền kinh tế rất có thể suy thoái. Kỳ vọng
Fed sẽ cắt giảm lãi suất để cố gắng và kích thích nền kinh tế tăng trưởng.
Nó
ảnh hưởng như thế nào đối với thị trường tiền tệ?
ISM
trên 50 thì đồng đô tăng giá
ISM
dưới 50 thì đồng đô rớt giá
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét